Để mọi người dân đều được hưởng an sinh xã hội

Lê Bảo

Trước yêu cầu phát triển của đất nước trong thời kỳ đổi mới, năm 1992, Chính phủ thành lập Bảo hiểm Y tế (BHYT) Việt Nam, đến năm 1995 thành lập Bảo hiểm Xã hội (BHXH) Việt Nam; đến năm 2002 cả hai hệ thống BHXH và BHYT được sáp nhập. BHXH Việt Nam là cơ quan được giao trực tiếp thực hiện các chính sách BHXH, BHYT- hai trụ cột chính trong hệ thống an sinh xã hội đất nước.

Qua 25 năm xây dựng và phát triển, BHXH Việt Nam đã hoàn thành xuất sắc các nhiệm vụ được giao, đóng góp tích cực vào thành tựu chung của cả nước trong phát triển kinh tế - xã hội.

Để mọi người dân đều được hưởng an sinh xã hội

Các đại biểu tham dự Hội thảo khoa học.

Trên đây là những đánh giá nhận định của các đại biểu tại Hội thảo khoa học “Một phần tư thế kỷ góp phần sự nghiệp an sinh” do BHXH Việt Nam tổ chức mới đây. Đánh giá những thành tựu BHXH Việt Nam đã đạt được trong chặng đường 25 năm, ông Nguyễn Minh Tuấn- Viện trưởng Viện Khoa học BHXH (BHXH Việt Nam) nhận định: BHXH Việt Nam đã đạt được nhiều thành tích đáng khích lệ, đặc biệt từ khi được giao thêm chức năng thanh tra chuyên ngành đóng BHXH, ngành tiếp tục có những đổi mới mạnh mẽ trên tất cả các lĩnh vực, góp phần vào sự nghiệp an sinh xã hội của đất nước.

Theo đó, diện bao phủ BHXH không ngừng tăng, nếu như năm 1995 chỉ có 2,2 triệu người tham gia BHXH thì đến hết năm 2006 (năm đầu tiên Luật BHXH có hiệu lực) đã có 6,7 triệu người tham gia; và đến hết tháng 8/2019 có 14,65 triệu người tham gia BHXH. Năm 2008 khi mới thực hiện BHXH tự nguyện, cả nước chỉ có 6.110 người tham gia, thì đến tháng 8/2019 tăng lên 437.000 người (tăng hơn 70 lần). Số người tham gia BH thất nghiệp cũng tăng từ 5,9 triệu người (năm 2009) lên 12,9 triệu người (tháng 8/2019). Đặc biệt, đến tháng 9/2019, tỉ lệ tham gia BHYT đã đạt trên 89,8% trên tổng dân số. Cùng với sự gia tăng đối tượng tham gia, thì số thu BHXH, BHYT cũng liên tục tăng. Năm 2018, tổng số thu toàn ngành đạt 332.006 tỉ đồng, tăng 11,26 lần so với năm 2006 và tăng 425,7 lần so với năm 1995. “Như vậy, diện bao phủ chính sách BHXH, BHYT đã không ngừng được mở rộng, mỗi năm đã có thêm hàng trăm ngàn NLĐ, hàng triệu người dân được bảo vệ thông qua các chế độ BHXH, BHYT, góp phần đảm bảo an sinh và tạo sự an toàn, ổn định xã hội...”- ông Tuấn khẳng định.

Trong khoảng 10 năm gần đây, ngành BHXH luôn tập trung quyết liệt thực hiện cải cách TTHC, cắt giảm từ 263 thủ tục xuống còn 27 thủ tục; thời gian giao dịch thực hiện TTHC về BHXH, BHYT của các DN giảm còn 51 giờ/năm… Ngành cũng đẩy mạnh giao dịch điện tử, cung cấp 19 dịch vụ công trực tuyến mức độ 3, 4; đã triển khai cấp số định danh cho người tham gia BHXH, BHYT và khai trương Trung tâm Dịch vụ khách hàng để tư vấn, giải đáp cho người dân, NLĐ về BHXH, BHYT... Đáng chú ý, Hệ thống thông tin giám định BHYT đã kết nối, liên thông với các cơ sở khám chữa bệnh BHYT trên toàn quốc. Với những thành tựu trên, BHXH Việt Nam đã được Bộ TT-TT đánh giá là cơ quan triển khai hiệu quả việc ứng dụng CNTT, dịch vụ công trực tuyến và được xếp hạng 2 trong bảng xếp hạng chung khối các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ có dịch vụ công. Đến năm 2018, BHXH Việt Nam đã vươn lên dẫn đầu bảng xếp hạng này, đánh dấu bước tiến đáng kể của ngành trong việc ứng dụng công nghệ thông tin vào công tác quản lý...

Mặc dù vậy, bên cạnh những kết quả đạt được, các đại biểu cho rằng, chính sách BHXH hiện vẫn chưa đồng bộ với các chính sách khác như: Bảo trợ xã hội, giảm nghèo, việc làm... Bên cạnh đó, chính sách BHXH cho khu vực phi chính thức mới chỉ giới hạn ở hai chế độ là hưu trí và tử tuất; lĩnh vực BHYT chưa được đa dạng dịch vụ để đáp ứng nhu cầu của các tầng lớp nhân dân, chưa điều chỉnh mức đóng- hưởng đảm bảo phù hợp với việc phát triển các dịch vụ y tế chất lượng cao… Ngoài ra, điều kiện kinh tế - xã hội hiện nay cũng đặt ra không ít thách thức như: Tác động của biến đổi khí hậu ngày càng phức tạp; xu hướng rủi ro kinh tế- xã hội ngày càng ảnh hưởng rộng; xu hướng già hóa dân số tăng nhanh; phân hóa xã hội ngày càng tăng, xu hướng di cư tự do ngày càng lớn... Để giải quyết những thách thức này, cần phải tư duy trên tầm chiến lược về chính sách an sinh xã hội, trên cơ sở đó thể chế hóa và hoàn thiện hệ thống pháp luật phù hợp với thực tiễn.

“Chiến lược an sinh xã hội của Việt Nam cần phải tiếp tục được bổ sung, mở rộng và cơ cấu lại cho phù hợp với các nhóm chính sách cụ thể. Đó là nhóm chính sách phòng ngừa rủi ro, nhằm hỗ trợ tạo việc làm có thu nhập và chủ động tham gia thị trường lao động; nhóm chính sách giảm thiểu rủi ro nhằm hoàn thiện chính sách, pháp luật về BHXH, BHYT; nhóm chính sách bù đắp thu nhập khi người lao động bị suy giảm hoặc mất sức lao động; nhóm chính sách khắc phục rủi ro nhằm trợ giúp xã hội, giảm nghèo bền vững, tăng cường tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản cho người dân. Trên cơ sở cấu trúc đó, Nhà nước thiết kế các chính sách ASXH mang tính hệ thống, lồng ghép, linh hoạt, đa dạng, phù hợp với các nhóm đổi tượng khác nhau” - ông Bùi Sỹ Lợi- Phó Chủ nhiệm Ủy ban Về các vấn đề xã hội của Quốc hội nhấn mạnh.

Tin nổi bật

Tin cùng chuyên mục

Xem nhiều nhất