Biến Halal thành động lực thực chất cho tăng trưởng
Hiện kinh tế Halal đã vượt 7.700 tỷ USD và đang hướng tới mốc 10.500 tỷ USD vào năm 2030. Trong khi dân số Hồi giáo đạt khoảng 2,1 tỷ người, chiếm 26,4% dân số thế giới. Những con số này cho thấy dư địa thị trường rộng lớn, đặc biệt trong các lĩnh vực thế mạnh của Việt Nam như nông sản, thực phẩm, du lịch và dịch vụ.
Mở lối vào thị trường Halal toàn cầu
Nhận định của các chuyên gia Viện Nghiên cứu Nam Á, Tây Á và châu Phi (ISAWAAS) thuộc Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam cho thấy, trong nhận thức phổ biến, Halal thường được hiểu đơn giản là thực phẩm đáp ứng quy định của Hồi giáo. Nhưng cách hiểu này đã lỗi thời so với thực tế phát triển của kinh tế Halal toàn cầu.
Hiện kinh tế Halal đang bước vào giai đoạn tăng trưởng mạnh mẽ, không còn là thị trường ngách mà đã trở thành một cấu phần quan trọng của thương mại toàn cầu. Không chỉ người Hồi giáo, mà cả người tiêu dùng ngoài cộng đồng này cũng lựa chọn sản phẩm Halal bởi các tiêu chuẩn cao về vệ sinh, minh bạch và phát triển bền vững. Chính vì vậy mà đây là cơ hội để loạt những doanh nghiệp (DN) Việt Nam chuyển dịch tư duy từ “tham gia thị trường” sang “tạo lợi thế cạnh tranh”. Việc đầu tư vào truy xuất nguồn gốc, tiêu chuẩn chất lượng và chuỗi cung ứng minh bạch sẽ giúp DN Việt tiếp cận thị trường Halal toàn cầu rộng lớn hơn, đồng thời nâng cao giá trị sản phẩm.
Chia sẻ dưới góc độ nghiên cứu và chính sách, PGS.TS Nguyễn Xuân Trung, Viện trưởng Viện Nghiên cứu Nam Á, Tây Á và châu Phi cho rằng, kinh tế Halal không chỉ là một lĩnh vực thương mại mà còn là một mô hình phát triển gắn với các giá trị toàn cầu mới. Ông Trung phân tích: Halal bao hàm các tiêu chuẩn nghiêm ngặt về chất lượng, an toàn, đạo đức và trách nhiệm xã hội trong toàn bộ chuỗi cung ứng, từ sản xuất đến tiêu dùng. Nhu cầu Halal đang mở rộng từ thực phẩm sang nhiều lĩnh vực như dược phẩm, mỹ phẩm, thời trang và du lịch, phản ánh sự hội tụ giữa tiêu dùng xanh, kinh tế tuần hoàn và phát triển bền vững. Đây chính là cơ hội để Việt Nam đa dạng hóa, mở rộng thị trường xuất khẩu, giảm phụ thuộc vào các thị trường truyền thống và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.
Chuyển hóa tiềm năng thành năng lực cạnh tranh
GS.TS Lê Văn Lợi, Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam nhận định, vấn đề của Việt Nam hiện nay không phải là thiếu tiềm năng, mà là thiếu tốc độ chuyển hóa tiềm năng thành năng lực cạnh tranh. Theo đó, cần đẩy nhanh công nhận quốc tế đối với chứng nhận Halal, nâng cấp năng lực DN theo toàn chuỗi giá trị, cũng như tập trung nguồn lực vào các ngành có lợi thế như nông sản, thủy sản, du lịch, dược phẩm.
Khi tham gia sâu vào chuỗi cung ứng Halal là cách Việt Nam đồng thời mở rộng thị trường xuất khẩu, đa dạng hóa quan hệ đối tác chiến lược và tăng cường ảnh hưởng địa kinh tế, trong bối cảnh địa chính trị toàn cầu đang tái cấu trúc mạnh mẽ.
Dưới góc độ nghiên cứu chuyên sâu, PGS.TS Đinh Công Hoàng, Trưởng phòng Nghiên cứu Trung Đông và Tây Á - Viện Nghiên cứu Nam Á chia sẻ, Tây Á và châu Phi khẳng định, kinh tế Halal là “đại dương xanh” với hơn 2 tỷ người tiêu dùng và tốc độ tăng trưởng bình quân trên 9%/năm, vượt mức tăng trưởng GDP toàn cầu.
Đặc biệt, các quốc gia thuộc Tổ chức Hợp tác Hồi giáo hiện nhập khẩu tới 80% hàng hóa từ bên ngoài, mở ra dư địa thị trường rất lớn cho Việt Nam tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng toàn cầu. Nếu được khai thác bài bản, đến năm 2030, kinh tế Halal có thể mang lại 9-12 tỷ USD, thậm chí tới 15 tỷ USD, đóng góp 1,4-1,9% GDP và tạo thêm 350.000-500.000 việc làm. Không chỉ dừng ở khía cạnh thương mại, Halal còn là hệ giá trị gắn với tiêu chuẩn ESG, giúp nâng cao chất lượng, tính minh bạch và giá trị gia tăng cho hàng hóa Việt Nam.
Theo PGS.TS Đinh Công Hoàng, trong bối cảnh Việt Nam đặt mục tiêu tăng trưởng cao và phát triển bền vững, kinh tế Halal đang nổi lên như một “không gian mới” cho xuất khẩu. PGS.TS Đinh Công Hoàng đề xuất xây dựng chiến lược Halal quốc gia, từ thể chế, hạ tầng, tài chính đến thương hiệu, nhằm biến Halal thành động lực thực chất cho mục tiêu tăng trưởng hai con số, phát triển bền vững.