Chất lượng nhân lực
Đề cập đến vấn đề dù hàng năm các trường ĐH cho ra lò nhiều cử nhân nhưng chất lượng nguồn nhân lực và hiệu suất lao động không cao, tại phiên họp trực tuyến của Chính phủ với các bộ, ngành, địa phương tổ chức ngày 28-12, Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam khẳng định: “Chúng ta không sợ đào tạo quá nhiều mà chỉ sợ chất lượng kỹ sư chúng ta kém mà thôi...”. Như vậy, tốt nghiệp đại học ra trường thất nghiệp không hẳn do đào tạo quá nhiều, mà do chất lượng đào tạo chưa cao, chưa đáp ứng được nhu cầu của thị

Ảnh minh họa.
Theo thống kê chưa đầy đủ của Bộ LĐ-TB&XH, hiện cả nước có khoảng gần 180.000 cử nhân và thạc sĩ thất nghiệp không có việc làm. Nghe con số thì nhiều người phải giật mình và nghĩ lại xem liệu có nên cho con, cháu mình học ĐH hay không, vừa tốn kém vừa không biết có xin nổi việc làm. Song, nếu chia tỷ lệ với tổng số đào tạo ĐH và sau ĐH hàng năm thì số người thất nghiệp chỉ chiếm khoảng 4%. Với tỷ lệ trên thì Bộ LĐ-TB&XH tự tin lạc quan rằng đó là tỷ lệ hợp lý, không thể gọi là cao.
Tuy nhiên, ở đây ta mới chỉ đang “đếm đầu người” có việc làm, chưa phân định rạch ròi đó là việc gì và có đúng chuyên môn được đào tạo hay không. Trên thực tế có rất nhiều người tốt nghiệp ĐH, thậm chí sau ĐH, cầm tấm bằng khá, giỏi trong tay xong rồi vẫn đi bán quần áo, mở tiệm bán cà phê, giúp việc chạy bàn... Như thế cũng gọi là có việc để đếm. Còn lại con số gần 180.000 cử nhân và thạc sĩ được coi là thất nghiệp vì tại thời điểm thống kê, họ không có bất cứ việc gì để làm. Điều này đồng nghĩa với việc, nếu xác định con số thực tốt nghiệp ĐH và sau ĐH có việc làm đúng chuyên môn thì tỷ lệ thất nghiệp còn cao hơn nữa.
Nói như vậy không có nghĩa là nói GD-ĐT đào tạo ồ ạt không có kế hoạch định hướng, lại càng không phải “đổ xuống sông xuống bể” mọi nỗ lực cố gắng giải quyết việc làm, an sinh xã hội của Bộ LĐ-TB&XH. Vấn đề ở đây thì ai cũng biết, chỉ có điều có nói ra không và nói ở đâu, như thế nào. Đó là việc có rất nhiều trường ĐH hiện nay đang chỉ “nhăm nhăm” làm sao tuyển được càng nhiều sinh viên càng tốt mà chưa chú trọng đến chất lượng đào tạo. Từ đó dẫn đến hệ quả tất yếu là hàng năm vẫn gần như 100% sinh viên tốt nghiệp ra trường, nhưng những người thực sự cống hiến cho xã hội từ chính chuyên môn được đào tạo là không nhiều.
Chẳng thế mà tại buổi họp trực tuyến của Chính phủ với các bộ, ngành, địa phương, Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam đã nêu ra một ví dụ khá buồn: “Cách đây vài năm, khi Intel vào tìm hiểu, kiểm tra, chỉ có 8% kỹ sư của mình đạt yêu cầu. Chính vì thế phải tăng cường chất lượng đào tạo...”. Điều này cũng đã được minh chứng cụ thể bằng bảng xếp hạng năng suất lao động của Việt Nam rất thấp so với các quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới. Chưa bàn đến những nước phát triển, chỉ tính trong khu vực thì hiện Việt Nam đang được đánh giá là có năng suất lao động gần như thấp nhất. Người ta còn ví von hết sức đau lòng là hiệu quả lao động của 15 người Việt Nam mới bằng 1 người Singapore.
Với cái nhìn khá lạc quan, một số chuyên gia lao động đánh giá: Từ năm 2000 đến nay, Việt Nam đã có sự cải tiến đáng kể năng suất lao động (tăng hơn 3%/năm). Tuy nhiên, mặc dù khoảng cách năng suất lao động của Việt Nam so với các nước trong khu vực ASEAN đang được thu hẹp dần, nhưng so với những nước phát triển thì khoảng cách về năng suất lao động của Việt Nam còn khá xa.
Ông Nguyễn Anh Tuấn, Viện trưởng Viện Năng suất Việt Nam khẳng định: Để nâng cao năng suất lao động, Việt Nam không chỉ cần tập trung hơn nữa vào thúc đẩy phát triển khoa học, công nghệ, kỹ thuật... mà còn cần hết sức chú trọng vào chất lượng lao động. Muốn vậy, không gì khác hơn là các trường ĐH cần phải coi trọng chất lượng đào tạo nguồn nhân lực cho xã hội.
Thực tế thì chất lượng nguồn nhân lực của ta hiện còn thấp, cần có những biện pháp khắc phục sớm nhất trong thời gian tới. Nếu không kịp thời có giải pháp hữu hiệu nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, tăng năng suất lao động trong quá trình hội nhập với khu vực và thế giới, Việt Nam sẽ bị tụt hậu xa hơn so với các nước. Đơn cử như trong lĩnh vực kinh tế, tới đây khi Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) có hiệu lực, nếu năng suất lao động của lao động Việt Nam vẫn “đì đẹt” như hiện nay thì các loại hàng hóa không thể cạnh tranh nổi với sản phẩm của các nước ồ ạt vào Việt Nam với thuế suất bằng 0. Đó là chưa kể nếu chất lượng nguồn nhân lực không cao thì ngay cả công nghiệp phụ trợ cũng khó phát triển, chứ đừng nói đến các ngành công nghệ cao.
Đó là điều rất đáng suy nghĩ.