Chạy đua với sạt lở ở Đồng bằng sông Cửu Long - Bài cuối: Sạt lở là thách thức mang tính toàn vùng
Sạt lở đang diễn biến ngày càng nghiêm trọng ở ĐBSCL, đe dọa trực tiếp đến đất đai, hạ tầng, sinh kế và sự phát triển bền vững của toàn vùng.
Trao đổi với phóng viên Báo Đại đoàn kết, PGS.TS Lê Anh Tuấn, Giảng viên cao cấp Khoa Môi trường và Tài nguyên Thiên nhiên, nguyên Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu Biến đổi Khí hậu tại Đại học Cần Thơ, cho biết đây không còn là hiện tượng cục bộ mà là hệ quả tổng hợp của suy giảm phù sa, khai thác cát quá mức, biến đổi khí hậu, nước biển dâng và những tác động từ hoạt động của con người.
PV: Thưa ông, thời gian gần đây sạt lở xảy ra liên tiếp tại nhiều tỉnh, thành ĐBSCL. Đâu là những nguyên nhân chính khiến tình trạng này ngày càng diễn biến phức tạp?
PGS.TS. Lê Anh Tuấn: Có thể nói, sạt lở hiện nay đã trở thành một vấn nạn lớn của hầu hết các tỉnh, thành vùng ĐBSCL. Nếu trước đây quá trình sạt lở và bồi lắng còn tương đối cân bằng thì hiện nay cán cân đó đã nghiêng hẳn về phía sạt lở. Theo thống kê từ hệ thống bản đồ WebGIS của Bộ Nông nghiệp và Môi trường, toàn vùng hiện có khoảng trên dưới 800 điểm sạt lở đáng lo ngại, mỗi năm mất khoảng 500-600 ha đất. Điều đáng lo hơn là phần lớn diện tích đất bị mất gần như không thể phục hồi.
Nguyên nhân dẫn đến tình trạng này là tổng hợp của nhiều yếu tố. Trước hết là lượng phù sa, bùn cát từ thượng nguồn suy giảm khiến dòng chảy trở thành “nước đói phù sa”, làm gia tăng khả năng bào mòn lòng sông và xâm thực bờ biển. Cùng với đó là tình trạng khai thác cát quá mức khiến lòng sông dẫn bị hạ thấp nhanh hơn tốc độ bồi đắp tự nhiên, làm mất ổn định bờ sông. Ngoài ra, việc suy giảm thảm thực vật bản địa, rừng ngập mặn; tác động của thời tiết cực đoan, nước biển dâng; sự gia tăng phương tiện giao thông đường thủy và việc xây dựng các công trình lớn sát bờ sông cũng đều góp phần làm nguy cơ sạt lở ngày càng nghiêm trọng hơn.
Theo ông, tác động của biến đổi khí hậu, thay đổi dòng chảy, khai thác cát và sụt lún nền đất đang ảnh hưởng như thế nào đến nguy cơ sạt lở ở ĐBSCL?
- Những yếu tố này có mối quan hệ chặt chẽ với nhau và cùng làm gia tăng nguy cơ sạt lở. Biến đổi khí hậu làm xuất hiện nhiều hiện tượng thời tiết cực đoan hơn như hạn hán kéo dài, mưa lớn bất thường, nước biển dâng, sóng biển mạnh hơn..., khiến bờ sông, bờ biển dễ mất ổn định. Trong khi đó, việc các hồ chứa và đập thủy điện ở thượng nguồn giữ lại lượng lớn phù sa đã khiến lượng bùn cát về ĐBSCL giảm khoảng một nửa so với cách đây khoảng 20 năm.

Đối với một vùng đất “trẻ” như ĐBSCL, cát có vai trò như “bộ khung xương” của toàn vùng. Khi lượng cát bổ sung ngày càng ít nhưng hoạt động khai thác vẫn diễn ra mạnh và khó kiểm soát thì lòng sông sẽ ngày càng sâu, tốc độ dòng chảy tăng lên, mặt cắt sông bị biến dạng và nguy cơ sạt lở là điều hoàn toàn có thể dự báo trước. Nếu khai thác vượt quá khả năng bồi hoàn tự nhiên thì quá trình mất ổn định của hệ thống sông ngòi sẽ tiếp tục gia tăng.
Để giảm thiểu sạt lở một cách bền vững, ĐBSCL cần ưu tiên những giải pháp nào về quy hoạch, quản lý tài nguyên và đầu tư hạ tầng trong thời gian tới?
Muốn giảm thiểu sạt lở một cách bền vững thì cần một giải pháp tổng thể, kết hợp hài hòa giữa giải pháp công trình và phi công trình. Về lâu dài, điều quan trọng là phải quy hoạch lại không gian dân cư và vùng sản xuất theo hướng thích ứng với điều kiện tự nhiên, hạn chế phát triển tại các khu vực có nguy cơ sạt lở cao. Song song đó là bảo vệ và phục hồi hệ sinh thái bản địa như rừng ngập mặn, cây bần, dừa nước nhằm tăng khả năng giữ đất và giảm tác động của sóng, dòng chảy.
Đối với những khu vực đặc biệt quan trọng thì việc đầu tư các công trình đê, kè kiên cố là cần thiết, mặc dù chi phí rất lớn. Tuy nhiên, việc lựa chọn giải pháp nào cũng cần dựa trên nghiên cứu kỹ đặc điểm tự nhiên, diễn biến dòng chảy và phân tích hiệu quả đầu tư để đạt hiệu quả cao nhất.
Từ góc độ chuyên môn, ông có kiến nghị gì để nâng cao hiệu quả phòng, chống sạt lở và bảo vệ lâu dài các vùng ven sông, ven biển ở ĐBSCL?
- Theo tôi, trước hết cần nhìn nhận sạt lở không còn là vấn đề riêng của từng địa phương mà là thách thức mang tính toàn vùng. Nếu không có các giải pháp căn cơ thì về lâu dài ĐBSCL sẽ đứng trước nguy cơ ngừng quá trình kiến tạo và dần tan rã. Vì vậy, cần tăng cường quản lý chặt hoạt động khai thác cát, bảo vệ nguồn bùn cát, phục hồi hệ sinh thái ven sông, ven biển và đẩy mạnh công tác quy hoạch thích ứng với biến đổi khí hậu.
Đối với các địa phương, cần cập nhật thường xuyên bản đồ cảnh báo, chủ động di dời người dân khỏi khu vực nguy hiểm, đồng thời quản lý chặt việc xây dựng các công trình ven sông, ven biển. Người dân cũng cần nâng cao nhận thức, tuân thủ các cảnh báo của cơ quan chức năng, không tự ý xây dựng hoặc tác động làm gia tăng nguy cơ mất ổn định bờ sông. Chỉ khi có sự phối hợp đồng bộ giữa Nhà nước, chính quyền địa phương và cộng đồng thì mới có thể từng bước kiểm soát hiệu quả tình trạng sạt lở đang ngày càng phức tạp hiện nay.
Trân trọng cảm ơn ông!