Đại biểu Quốc hội: Cần chuyển từ “cung cấp thông tin” sang “phát triển dữ liệu mở”
Ngày 9/4, ngay sau khi nghe tờ trình và báo cáo thẩm tra, Quốc hội tiến hành thảo luận tại Tổ về Dự án Luật Tiếp cận thông tin (sửa đổi). Các đại biểu Quốc hội (ĐBQH) cho rằng, dự án Luật cần bám sát theo tinh thần Nghị quyết 57 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.
Ưu tiên cung cấp thông tin trên môi trường số
Phát biểu tại Tổ 1, ông Tạ Đình Thi, Phó Chủ nhiệm Uỷ ban Khoa học công nghệ và môi trường cho rằng, đứng từ góc nhìn của Nghị quyết số 57 về đột phá khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, cá nhân ông nhận thấy dự thảo Luật vẫn còn nặng tư duy hành chính cũ, chưa thực sự bứt phá để tận dụng tối đa chuyển đổi số phục vụ người dân.
Theo đó, về nguyên tắc bảo đảm quyền tiếp cận thông tin (Điều 3), ông Thi nhìn nhận, dự thảo Luật đã bổ sung khoản 3 về đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số, cung cấp thông tin trên môi trường số. Đây là vấn đề rất đúng hướng, nhưng mới chỉ mang tính tuyên ngôn.
“Theo tinh thần Nghị quyết 57, chuyển đổi số phải là phương thức chủ đạo, không chỉ là giải pháp bổ trợ. Do đó, đề nghị sửa khoản 3 Điều 3 theo hướng ưu tiên cung cấp thông tin trên môi trường số là chính. Các hình thức truyền thống chỉ áp dụng với đối tượng đặc thù hoặc vùng khó khăn về hạ tầng. Có như vậy mới thúc đẩy các cơ quan, đơn vị thực sự số hóa, không còn giữ thói quen làm việc trên giấy”, ông Thi nói.
Liên quan đến công khai thông tin trên cổng, trang thông tin điện tử (Điều 19), theo ông Thi, tại khoản 1 Điều 19 liệt kê tới 19 nhóm thông tin bắt buộc phải đăng tải. Đây là cách làm truyền thống, “công khai để đối phó”, dẫn đến tình trạng nhiều cổng thông tin điện tử hiện nay quá tải, khó tra cứu, người dân không tìm thấy thông tin mình cần.
Dẫn việc “Nghị quyết 57 yêu cầu phát triển dữ liệu số dùng chung, kết nối liên thông”, từ đó ông Thi đề nghị không nên liệt kê chi tiết 19 nhóm trong Luật, mà chỉ quy định nguyên tắc các thông tin đã được số hóa, có trong cơ sở dữ liệu quốc gia, cơ sở dữ liệu chuyên ngành phải được công khai, kết nối, chia sẻ qua Cổng Dịch vụ công quốc gia và cổng dữ liệu quốc gia. Đồng thời giao Chính phủ quy định danh mục chi tiết, bảo đảm vừa linh hoạt, vừa phù hợp với từng thời kỳ phát triển số.
Về hình thức yêu cầu cung cấp thông tin (Điều 24), ông Thi cho rằng, dự thảo Luật cho phép yêu cầu qua trực tiếp, bưu chính, internet, nhưng lại không ưu tiên bắt buộc tiếp nhận trực tuyến. Điều này trái với tinh thần Nghị quyết 57 về lấy người dùng là trung tâm, lấy nền tảng số làm công cụ chính.
“Tôi đề nghị bổ sung nguyên tắc từ ngày Luật có hiệu lực, tất cả cơ quan, đơn vị phải thiết lập và duy trì kênh tiếp nhận yêu cầu cung cấp thông tin trực tuyến; khuyến khích người dân sử dụng. Không được yêu cầu người dân đến trực tiếp nếu đã gửi yêu cầu hợp lệ qua môi trường số. Đồng thời, nghiên cứu tích hợp tính năng này vào ứng dụng VNeID hoặc Cổng Dịch vụ công quốc gia để thống nhất đầu mối”, ông Thi kiến nghị.
Theo đại biểu Nguyễn Thị Lan (Đoàn Hà Nội), dự thảo Luật đã nhấn mạnh việc cung cấp thông tin trên môi trường số. Tuy nhiên, cần chuyển từ “cung cấp thông tin” sang “phát triển dữ liệu mở”.
“Trong thực tiễn nông nghiệp, nếu các dữ liệu về khí hậu, đất đai, dịch bệnh, thị trường được công khai dưới dạng dữ liệu mở, có thể khai thác và tái sử dụng, thì doanh nghiệp có thể phát triển các giải pháp công nghệ như trí tuệ nhân tạo, dự báo sản xuất, tối ưu chuỗi cung ứng. Kinh nghiệm quốc tế cho thấy dữ liệu mở là nền tảng quan trọng thúc đẩy đổi mới sáng tạo. Do đó, đề nghị bổ sung nguyên tắc thông tin được cung cấp theo hướng dữ liệu mở, có khả năng khai thác, chia sẻ và tái sử dụng; đồng thời cần quy định chuẩn dữ liệu và khả năng kết nối liên thông giữa các hệ thống”, bà Lan nêu ví dụ.
Thông tin có sẵn trong cơ sở dữ liệu điện tử: Thời hạn cung cấp không quá 24 giờ
Về thời hạn cung cấp, công khai thông tin, dự thảo Luật quy định các mốc thời gian như “5 ngày làm việc”, “10 ngày làm việc”, “30 ngày”. Ông Thi cho rằng đây đều là thời gian dài, không còn phù hợp với tốc độ xử lý số hiện nay khi Nghị quyết 57 đặt mục tiêu xử lý hồ sơ, cung cấp dịch vụ công theo thời gian thực hiện hoặc trong ngày. Do đó, đối với thông tin đã có sẵn trong cơ sở dữ liệu điện tử, thời hạn cung cấp theo yêu cầu không quá 24 giờ; đối với thông tin cần tra cứu, tập hợp, không quá 3 ngày làm việc. Nếu vượt quá, phải có giải trình và thông báo lý do cho người dân.
Ông Thi cũng nêu rõ việc sửa Luật lần này phải thực sự tạo ra bước chuyển về chất, không chỉ giải quyết những bất cập của Luật 2016. Nghị quyết số 57 đã mở đường cho tư duy đột phá, dám nghĩ dám làm, lấy chuyển đổi số làm động lực. Vì vậy, Ban soạn thảo cần tiếp tục nghiên cứu, rà soát, sửa đổi toàn diện các điều khoản còn nặng về hình thức hành chính, tăng cường các quy định ưu tiên tiếp cận thông tin trên môi trường số, rút ngắn thời gian, đơn giản hóa thủ tục, bảo đảm quyền tiếp cận thông tin của người dân một cách thực chất, nhanh chóng và thuận lợi nhất.
Trong khi đó, bà Nguyễn Thị Lan cho hay, dự thảo Luật đã mở rộng chủ thể cung cấp thông tin sang các đơn vị sự nghiệp công lập cung ứng dịch vụ công thiết yếu. Đây là bước tiến đúng, phản ánh thực tiễn khi các lĩnh vực như giáo dục, y tế, khoa học công nghệ ngày càng có vai trò quan trọng trong cung cấp dịch vụ công. Tuy nhiên, quy định này hiện chưa làm rõ ranh giới giữa thông tin phải công khai và thông tin cần bảo mật.
“Trong thực tế, các trường đại học, viện nghiên cứu hiện nay vừa thực hiện nhiệm vụ công, vừa có hoạt động hợp tác với doanh nghiệp và thương mại hóa kết quả nghiên cứu. Nếu không phân định rõ, có thể dẫn đến hai rủi ro: hoặc công khai quá mức, ảnh hưởng đến quyền sở hữu trí tuệ và lợi ích kinh tế; hoặc ngược lại, né tránh công khai, làm giảm tính minh bạch. Ví dụ, một giống cây trồng mới hoặc quy trình công nghệ nếu công khai sớm có thể mất cơ hội bảo hộ và chuyển giao. Vì vậy cần bổ sung quy định phân loại thông tin thành ba nhóm: công khai bắt buộc, công khai có điều kiện và không công khai; đồng thời làm rõ cơ chế bảo vệ tài sản trí tuệ trong các đơn vị sự nghiệp công lập”, bà Lan nói.