Đổi mới công tác dân tộc tại Đắk Lắk: Từ tham mưu chính sách đến kiến tạo động lực phát triển - Bài 2: Sở Dân tộc và Tôn giáo với mục tiêu đưa Đắk Lắk không còn xã, thôn đặc biệt khó khăn
Từ vai trò tham mưu Nghị quyết số 07-NQ/TU đến xây dựng Đề án 20 xã điểm và Đề án hỗ trợ các xã, thôn đặc biệt khó khăn ra khỏi diện đặc biệt khó khăn, Sở Dân tộc và Tôn giáo tỉnh Đắk Lắk đang từng bước thể hiện rõ hơn vai trò của cơ quan quản lý nhà nước về công tác dân tộc: không chỉ đưa chính sách đến cơ sở mà còn tham mưu để chính sách sát thực tiễn, tập trung nguồn lực đúng trọng tâm và tạo ra năng lực phát triển bền vững cho đồng bào.
Nếu Nghị quyết 07-NQ/TU tạo ra tầm nhìn và Đề án 20 xã điểm tạo ra mô hình, thì bước đi tiếp theo mà ngành công tác dân tộc Đắk Lắk đang tham mưu có quy mô rộng hơn nhiều.

Hiện nay, Sở Dân tộc và Tôn giáo đang trình Tỉnh ủy xem xét, ban hành Đề án “Hỗ trợ các xã, thôn đặc biệt khó khăn trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk ra khỏi diện đặc biệt khó khăn giai đoạn 2026-2030”.
Theo mục tiêu của Đề án, phấn đấu đến năm 2030 đưa toàn bộ 51 xã đặc biệt khó khăn trên địa bàn tỉnh ra khỏi địa bàn đặc biệt khó khăn theo quy định; đồng thời 449 thôn đặc biệt khó khăn thoát khỏi tình trạng đặc biệt khó khăn, qua đó hướng tới mục tiêu đến năm 2030 toàn tỉnh không còn xã, thôn thuộc diện đặc biệt khó khăn.
Việc Sở Dân tộc và Tôn giáo chủ động tham mưu Đề án này cho thấy vai trò của cơ quan chuyên môn đã chuyển từ tổ chức thực hiện chính sách sang tham mưu giải quyết những bài toán phát triển có tính dài hạn và liên vùng.
Đằng sau những con số ấy không đơn thuần là việc thay đổi một tiêu chí phân loại. Mục tiêu quan trọng hơn là tạo ra sự thay đổi thực chất về điều kiện sống và cơ hội phát triển của người dân.
Đó là từng bước hoàn thiện kết cấu hạ tầng thiết yếu; phát triển sản xuất; nâng cao thu nhập; giảm nghèo bền vững; cải thiện chất lượng giáo dục, y tế, văn hóa, môi trường; nâng cao chất lượng đời sống Nhân dân; đồng thời thu hẹp khoảng cách phát triển giữa vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi với mặt bằng chung của tỉnh.
Xa hơn, đây còn là nhiệm vụ có ý nghĩa chính trị - xã hội sâu sắc, góp phần củng cố niềm tin của Nhân dân đối với Đảng và Nhà nước, giữ vững quốc phòng, an ninh, bảo đảm trật tự an toàn xã hội và tăng cường khối đại đoàn kết các dân tộc.
Nếu Đề án 20 xã điểm là bước thử nghiệm một cách làm mới, thì Đề án đưa xã, thôn đặc biệt khó khăn ra khỏi diện đặc biệt khó khăn chính là bước mở rộng mục tiêu từ “điểm” ra “diện”, từ xây dựng mô hình đến giải quyết căn bản bài toán phát triển ở những địa bàn khó khăn nhất.

Ba bước đi, một mạch tư duy
Nhìn tổng thể, từ Nghị quyết 07-NQ/TU, Đề án 20 xã điểm đến Đề án hỗ trợ các xã, thôn đặc biệt khó khăn ra khỏi diện đặc biệt khó khăn, có thể thấy một mạch tư duy nhất quán đang được hình thành trong công tác dân tộc của Đắk Lắk.
Nghị quyết 07 là bước đột phá về tư duy và định hướng chính trị.
Đề án 20 xã điểm là bước đột phá về phương thức tổ chức thực hiện.
Đề án đưa xã, thôn đặc biệt khó khăn ra khỏi diện đặc biệt khó khăn là bước đột phá về mục tiêu phát triển và kết quả cuối cùng cần đạt được.
Ba bước đi này có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Từ một nghị quyết chuyên đề, tỉnh hình thành những mô hình để kiểm chứng; từ những mô hình được kiểm chứng, tiếp tục hoàn thiện phương thức hỗ trợ; và cuối cùng hướng tới mục tiêu cao nhất là tạo ra sự thay đổi thực chất, bền vững trên toàn vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi.
Đó cũng là sự chuyển đổi từ “hỗ trợ theo chính sách” sang “phát triển theo chiến lược”, từ “giải quyết khó khăn” sang “tạo năng lực phát triển”, từ “đầu tư dàn trải” sang “tập trung nguồn lực tạo điểm nhấn”, từ “một số mô hình riêng lẻ” hướng tới “những mô hình có khả năng lan tỏa trên diện rộng”.

Dấu ấn của một Đắk Lắk dám đi trước
Trong công tác dân tộc, không có một công thức duy nhất phù hợp với mọi địa phương. Mỗi vùng đất có điều kiện tự nhiên, lịch sử, văn hóa và đặc điểm cộng đồng khác nhau. Vì vậy, điều quan trọng không phải là sao chép một mô hình có sẵn, mà là tìm ra cách làm phù hợp với chính mình.
Từ việc tiên phong tham mưu Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh ban hành Nghị quyết chuyên đề về công tác dân tộc và tôn giáo; đến việc UBND tỉnh ban hành Quyết định số 2648/QĐ-UBND ngày 21/8/2026 phê duyệt Đề án 20 xã điểm; và tiếp tục chuẩn bị Đề án hỗ trợ các xã, thôn đặc biệt khó khăn ra khỏi diện đặc biệt khó khăn vào năm 2030, Đắk Lắk đang từng bước hình thành một chuỗi chính sách có tính liên kết, có điểm bắt đầu, có mô hình thử nghiệm và có đích đến rõ ràng.
Điều đáng nói nhất không nằm ở số lượng văn bản hay quy mô nguồn lực, mà nằm ở cách nghĩ.
Đó là cách nghĩ coi đồng bào dân tộc thiểu số không chỉ là đối tượng thụ hưởng mà là chủ thể phát triển; coi văn hóa không chỉ là giá trị cần bảo tồn mà còn là nguồn lực; coi hạ tầng không phải là đích đến mà là điều kiện để mở ra sinh kế; coi xã điểm không phải là nơi nhận nhiều nguồn lực hơn mà là nơi thử nghiệm cách làm mới; và coi kết quả cuối cùng phải được đo bằng sự thay đổi trong đời sống của người dân.
Theo ông Nguyễn Hoàng Giang, Giám đốc Sở Dân tộc và Tôn giáo tỉnh Đắk Lắk, Đắk Lắk có 45 dân tộc cùng sinh sống. Mỗi cộng đồng là một sắc màu văn hóa, một nguồn lực và một tiềm năng phát triển.
“Khi những nguồn lực ấy được đánh thức, kết hợp với đầu tư có trọng tâm, khoa học - công nghệ, chuyển đổi số, kinh tế xanh và một hệ thống chính trị cơ sở đủ năng lực, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi sẽ không chỉ là nơi cần được hỗ trợ, mà sẽ trở thành một không gian phát triển giàu tiềm năng, giàu bản sắc và có sức đóng góp ngày càng lớn vào sự phát triển chung của tỉnh”. Ông Nguyễn Hoàng Giang nhấn mạnh.
Tầm nhìn mới- giai đoạn phát triển mới.
Nghị quyết 07 đã mở ra một tầm nhìn mới; Quyết định 2648 đã tạo ra một mô hình mới. Đề án đang trình Tỉnh ủy hướng tới mục tiêu đưa các xã, thôn đặc biệt khó khăn ra khỏi diện đặc biệt khó khăn sẽ tạo nên một đích đến mới.
Và khi ba bước đi ấy được triển khai đồng bộ, thực chất, lấy người dân làm trung tâm và lấy hiệu quả thực tế làm thước đo, Đắk Lắk không chỉ giải quyết những khó khăn của hôm nay, mà còn đang đặt nền móng cho một phương thức phát triển mới của vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi.
Đó là hành trình từ “thoát khó” đến “tự phát triển”; từ “hỗ trợ” đến “trao cơ hội”; từ một vài mô hình điểm đến mục tiêu không còn xã, thôn đặc biệt khó khăn; và trên hết, từ chính sách đến một cuộc sống tốt đẹp hơn cho Nhân dân.
Đó chính là dấu ấn của một Đắk Lắk dám đổi mới, dám đi trước và dám đặt ra những mục tiêu lớn hơn cho công tác dân tộc trong giai đoạn phát triển mới.