Báo Đại Đoàn Kết Giao thông

Hà Nội định hướng 18 tuyến metro gần 1.000 km, đặt nền móng giao thông cho tầm nhìn 100 năm

Báo Đại Đoàn Kết Tăng kích thước chữ

Hà Nội định hướng 18 tuyến metro gần 1.000 km, đặt nền móng giao thông cho tầm nhìn 100 năm

Báo Đại Đoàn Kết trên Google News

Hà Nội đang xây dựng định hướng phát triển hệ thống đường sắt đô thị quy mô lớn với 18 tuyến, tổng chiều dài khoảng 979 km, được coi là “xương sống” của giao thông công cộng. Với tổng vốn đầu tư dự kiến hơn 100 tỷ USD và lộ trình triển khai kéo dài nhiều thập kỷ, mạng lưới này được kỳ vọng sẽ dẫn dắt phát triển đô thị, nhưng cũng đặt ra không ít thách thức về nguồn lực và tiến độ thực hiện.

Nhu cầu vốn hơn 100 tỷ USD, bài toán huy động nguồn lực

Theo báo cáo số 460 ký ngày 21/4 của Đảng ủy UBND TP Hà Nội, thành phố đang xây dựng định hướng phát triển hệ thống đường sắt đô thị quy mô lớn, dự kiến gồm 18 tuyến với tổng chiều dài khoảng 979 km trong Quy hoạch tổng thể Thủ đô tầm nhìn 100 năm. Đây được xác định là hạ tầng khung then chốt, có vai trò tổ chức và dẫn dắt không gian phát triển đô thị trong tương lai.

Cụ thể, theo Đảng ủy UBND TP Hà Nội, mạng lưới đường sắt đô thị của Thủ đô đã nhiều lần được điều chỉnh qua các kỳ quy hoạch. Theo Quyết định số 519/QĐ-TTg năm 2016, hệ thống gồm 10 tuyến với tổng chiều dài khoảng 397,8 km, cùng 3 tuyến monorail dài khoảng 44 km. Đến Quy hoạch chung Thủ đô điều chỉnh năm 2024 (Quyết định số 1668/QĐ-TTg), quy mô đã được nâng lên 14 tuyến với tổng chiều dài 616,9 km.

Hình ảnh tuyến đường sắt đô thị Nhổn - ga Hà Nội.
Hình ảnh tuyến đường sắt đô thị Nhổn - ga Hà Nội.

Trong định hướng mới, mạng lưới tiếp tục được mở rộng lên 18 tuyến, hình thành hệ thống vận tải khối lượng lớn, giữ vai trò "xương sống" của giao thông công cộng, hỗ trợ triển khai mô hình phát triển đô thị "đa cực - đa trung tâm", gắn với chiến lược "09 cực - 09 trung tâm - 09 trục - 08 vành đai". Đồng thời, hệ thống này tạo nền tảng để phát triển đô thị theo định hướng giao thông công cộng (TOD) ở cả cấp đô thị và cấp vùng.

Theo định hướng phân kỳ đầu tư, giai đoạn 2026 - 2035 dự kiến hoàn thành khoảng 10 tuyến/đoạn tuyến với chiều dài khoảng 500 km, trong đó ưu tiên các tuyến thuộc giai đoạn 2026–2030 theo Nghị quyết số 188/2025/QH15, cùng với các tuyến trục quan trọng như tuyến số 1 (Nội Bài - Yên Viên - ga Hà Nội - Ngọc Hồi) và tuyến số 6 (Nội Bài - Ngọc Hồi).

Giai đoạn 2036 - 2045 sẽ tiếp tục hoàn thành thêm 7 tuyến/đoạn tuyến với tổng chiều dài khoảng 383 km. Giai đoạn 2046 - 2065 hoàn thành 3 tuyến còn lại với chiều dài khoảng 96 km, từng bước hoàn thiện toàn bộ mạng lưới.

Một trong những vấn đề lớn đặt ra là tổng mức đầu tư rất lớn, phụ thuộc vào phương án xây dựng. Theo tính toán, với phương án đi ngầm từ vành đai 3,5 trở vào, tổng mức đầu tư khoảng 109,76 tỷ USD; phương án đi ngầm từ vành đai 4 trở vào khoảng 117,56 tỷ USD; trong khi phương án đi ngầm toàn bộ có thể lên tới 137,06 tỷ USD.

Riêng giai đoạn 2026 - 2035, nhu cầu vốn dự kiến khoảng 60–70 tỷ USD. Tuy nhiên, khả năng cân đối hiện nay vẫn còn thiếu từ 18,36 đến 27,6 tỷ USD, đòi hỏi phải có các giải pháp huy động nguồn lực hiệu quả hơn.

Để đáp ứng nhu cầu vốn, Hà Nội xác định cần huy động đa dạng các nguồn lực, trong đó nguồn lực nội sinh đóng vai trò quyết định, nguồn lực bên ngoài là yếu tố đột phá. Các nguồn vốn bao gồm ngân sách thành phố, hỗ trợ từ ngân sách Trung ương, vốn vay ODA và các nguồn hợp pháp khác.

Theo dự kiến, ngân sách thành phố sẽ huy động khoảng 12,4 tỷ USD trong giai đoạn 2026–2030 và khoảng 16,16 tỷ USD trong giai đoạn 2031 - 2035. Ngân sách Trung ương hỗ trợ khoảng 8,614 tỷ USD trong giai đoạn 2026 - 2035, trong khi vốn ODA ước khoảng 5,224 tỷ USD.

Bên cạnh đó, thành phố sẽ đẩy mạnh phát hành trái phiếu chính quyền địa phương, đặc biệt là trái phiếu xanh nhằm thu hút các nhà đầu tư quốc tế. Các hình thức hợp tác công tư (PPP), xã hội hóa đầu tư và khai thác nguồn lực từ quỹ đất theo mô hình TOD cũng được xác định là giải pháp quan trọng.

Song, theo đánh giá, nguồn thu từ quỹ đất TOD trước năm 2030 là khó khả thi; giai đoạn 2031–2035 dự kiến đạt khoảng 1,3 tỷ USD và sau năm 2035 khoảng 4,7 tỷ USD, do đó chưa thể đóng vai trò chủ lực trong giai đoạn đầu.

Bên cạnh yếu tố vốn, việc lựa chọn phương án xây dựng (đi ngầm, đi nổi hay trên cao) cũng là bài toán phức tạp, phụ thuộc vào nhiều yếu tố như quy hoạch không gian, mật độ dân cư, điều kiện địa chất, hiệu quả kinh tế và tác động môi trường.

Đáng chú ý, hệ thống ĐSĐT được định hướng phát triển theo hướng lưỡng dụng, có thể phục vụ cả mục tiêu dân sinh và an ninh, quốc phòng. Kinh nghiệm quốc tế, đặc biệt từ Liên bang Nga, cho thấy metro có thể được xây dựng với tiêu chuẩn kỹ thuật cao để đáp ứng các yêu cầu đặc biệt trong tình huống khẩn cấp.

Việc phát triển hệ thống ngầm cũng được xác định là yêu cầu cấp thiết, không chỉ phục vụ giao thông mà còn tích hợp nhiều chức năng như hạ tầng kỹ thuật, bãi đỗ xe, trung tâm thương mại và không gian dự trữ. Nội dung này cần được nghiên cứu, triển khai sớm trong năm 2026.

Song song với đầu tư xây dựng, việc hoàn thiện hệ thống quy chuẩn, tiêu chuẩn kỹ thuật cho ĐSĐT cũng đang được đẩy mạnh. Bộ Xây dựng dự kiến ban hành bộ quy chuẩn gồm 39 quy chuẩn và hệ thống tiêu chuẩn gồm 597 tiêu chuẩn trong năm 2026, nhằm bảo đảm tính đồng bộ, thống nhất trong toàn hệ thống.

Theo đó, Hà Nội cũng đặt mục tiêu đến năm 2040 có thể làm chủ tới 95% công nghệ đầu tư, xây dựng và vận hành hệ thống metro, thông qua chuyển giao công nghệ và nâng cao tỷ lệ nội địa hóa, từng bước hình thành ngành công nghiệp đường sắt đô thị trong nước.

Thực tế triển khai còn chậm

Dù định hướng quy mô lớn, thực tế triển khai hệ thống đường sắt đô thị tại Hà Nội hiện vẫn còn nhiều hạn chế. Cụ thể, sau khoảng 25 năm nghiên cứu và đầu tư, thành phố mới đưa vào khai thác 2 tuyến/đoạn tuyến với tổng chiều dài khoảng 21,5 km, chiếm khoảng 2,2% tổng chiều dài mạng lưới theo quy hoạch 979 km.

Hiện nay, Hà Nội có hai tuyến đường sắt đô thị đã vận hành gồm tuyến 2A Cát Linh - Hà Đông và đoạn trên cao tuyến 3.1 Nhổn - Cầu Giấy. Đây là những dự án đầu tiên đưa vào khai thác, góp phần bước đầu hình thành hệ thống vận tải công cộng khối lượng lớn cho Thủ đô.

Hệ thống đường sắt đô thị Hà Nội được định hướng phát triển quy mô lớn với 18 tuyến, tổng chiều dài gần 1.000 km, đóng vai trò xương sống của giao thông công cộng Thủ đô.
Hệ thống đường sắt đô thị Hà Nội được định hướng phát triển quy mô lớn với 18 tuyến, tổng chiều dài gần 1.000 km, đóng vai trò xương sống của giao thông công cộng Thủ đô.

Bên cạnh đó, các tuyến đang triển khai thi công có tổng chiều dài khoảng 54,42 km, chiếm 5,56% mạng lưới. Các dự án này bao gồm đoạn ngầm tuyến 3.1 (Cầu Giấy – ga Hà Nội), tuyến 2.1 (Nam Thăng Long – Trần Hưng Đạo) và tuyến 5 (Văn Cao – Hòa Lạc).

Ngoài ra, khoảng 91,5 km tuyến đang trong giai đoạn nghiên cứu đầu tư, gồm các tuyến kéo dài và các tuyến mới như tuyến 1 (Yên Viên – Ngọc Hồi), tuyến 2.2, 2.3 và tuyến 3.2.

Thực tế này cho thấy, tiến độ phát triển hệ thống ĐSĐT còn chậm so với yêu cầu, chưa đáp ứng được nhu cầu đi lại ngày càng tăng của người dân cũng như mục tiêu giảm ùn tắc giao thông và ô nhiễm môi trường.

Trong bối cảnh nhu cầu vốn lớn, tiến độ triển khai còn chậm, việc hiện thực hóa mạng lưới ĐSĐT gần 1.000 km sẽ là thách thức lớn đối với Hà Nội trong nhiều thập kỷ tới. Tuy nhiên, nếu được triển khai hiệu quả, hệ thống này sẽ tạo bước đột phá trong phát triển hạ tầng, nâng cao chất lượng sống và định hình diện mạo đô thị hiện đại cho Thủ đô.

Lê Khánh