Lạng Sơn: Từ mô hình trồng nấm lim mở hướng cho vùng dược liệu Châu Sơn
Từ thành công của mô hình trồng nấm lim xanh của Hợp tác xã Nông lâm và Dược liệu Anh Khoa đã mở ra kỳ vọng về việc quy hoạch vùng trồng, định danh sản phẩm và xây dựng nấm lim xanh Châu Sơn trở thành sản phẩm OCOP của tỉnh Lạng Sơn.
Tại xã Châu Sơn, mô hình trồng nấm lim xanh của Hợp tác xã Nông lâm và Dược liệu Anh Khoa đang nhận được nhiều sự quan tâm khi lứa nấm đầu tiên được bán với giá từ 600.000 - 700.000 đồng/kg. Sau thời gian tìm hiểu kỹ thuật, đầu năm 2026, hợp tác xã bắt đầu đầu tư khoảng 2.000 phôi nấm lim xanh để nuôi trồng thử nghiệm.
Ông Bế Văn Khoa, Giám đốc Hợp tác xã Nông lâm và Dược liệu Anh Khoa cho biết, nấm lim xanh là loại dược liệu có giá trị kinh tế cao nhưng yêu cầu kỹ thuật chăm sóc khá nghiêm ngặt. Khu vực nuôi trồng phải duy trì nhiệt độ, độ ẩm phù hợp, thường xuyên phun ẩm và bảo đảm môi trường sạch để nấm phát triển ổn định.

Hiện nay, hợp tác xã đã tiến hành thu hoạch lứa nấm lim xanh đầu tiên với sản lượng đạt trên 30kg nấm tươi. Dự kiến đến tháng 7/2026, hợp tác xã sẽ tiếp tục cho thu hoạch lứa thứ hai với sản lượng tăng khoảng 30 - 40% so với lứa đầu tiên.

Anh Nguyễn Văn Ninh, thành viên Hợp tác xã Nông lâm và Dược liệu Anh Khoa cho biết: “Sau khi được hỗ trợ phôi nấm, tôi và các thành viên hợp tác xã đã được hướng dẫn kỹ thuật chăm sóc, thu hoạch và bảo quản. Qua một thời gian trồng, tôi nhận thấy nấm lim xanh tương đối dễ chăm sóc, không cần nhiều nhân công. Trong quá trình trồng, khâu quan trọng nhất là theo dõi độ ẩm, nhiệt độ, vệ sinh khu vực trồng và tưới nước định kỳ”.
Theo tính toán của hợp tác xã, với khoảng 2.000 bịch giá thể nấm đang được nuôi trồng, nếu chăm sóc đúng kỹ thuật, mỗi bịch có thể cho thu từ 4 - 5 đợt mỗi năm, sản lượng bình quân đạt khoảng 0,25kg nấm tươi/bịch/năm. Như vậy, tổng sản lượng ước đạt khoảng 500kg nấm tươi/năm.
Với giá bán hiện nay dao động từ 600.000 - 700.000 đồng/kg nấm tươi, doanh thu dự kiến có thể đạt từ 300 - 350 triệu đồng mỗi năm. Đối với sản phẩm nấm sấy khô, giá bán hiện dao động từ 1,4 - 1,5 triệu đồng/kg, mở ra khả năng nâng cao giá trị sản phẩm nếu được đầu tư chế biến và xây dựng thương hiệu bài bản.
Không chỉ có giá trị kinh tế, mô hình trồng nấm lim xanh còn cho thấy khả năng tận dụng điều kiện khí hậu, độ ẩm và lợi thế tự nhiên của xã Châu Sơn để phát triển nông nghiệp theo hướng hàng hóa. Đây là yếu tố quan trọng trong bối cảnh địa phương đang tìm kiếm thêm các mô hình sản xuất phù hợp, có khả năng tạo thu nhập ổn định cho người dân.
Từ hiệu quả bước đầu của Hợp tác xã Nông lâm và Dược liệu Anh Khoa, xã Châu Sơn đang tính toán hướng đi dài hơn cho cây dược liệu. Thay vì để mô hình phát triển nhỏ lẻ, địa phương sẽ tổ chức đánh giá toàn diện về điều kiện thổ nhưỡng, khí hậu, kỹ thuật, thị trường tiêu thụ và khả năng nhân rộng sang các thôn khác.
Ông Nguyễn Công Hưng, Chủ tịch UBND xã Châu Sơn cho biết, với hiệu quả bước đầu mang lại, xã sẽ tổ chức đánh giá toàn diện để từng bước nhân rộng mô hình sang các thôn khác. Đây được xem là giải pháp quan trọng nhằm khai thác lợi thế tự nhiên, phát triển nông nghiệp bền vững gắn với xây dựng nông thôn mới.
Cùng với việc đánh giá, nhân rộng mô hình, địa phương cũng định hướng hỗ trợ hợp tác xã kết nối tiêu thụ, quảng bá sản phẩm và xây dựng thương hiệu nấm lim xanh Châu Sơn. Nếu được chuẩn hóa về quy trình sản xuất, bao bì, truy xuất nguồn gốc và chất lượng sản phẩm, nấm lim xanh hoàn toàn có thể trở thành sản phẩm đặc trưng của địa phương, hướng tới xây dựng sản phẩm OCOP trong thời gian tới.

Theo lãnh đạo địa phương, nếu mô hình tiếp tục cho hiệu quả ổn định, giai đoạn tiếp theo sẽ cần đầu tư bài bản hơn về công nghệ sấy khô, nhà xưởng, bảo quản và quy trình chế biến để nâng giá trị sản phẩm thay vì chỉ bán nấm tươi như hiện nay. Đây được xem là bước quan trọng để hình thành chuỗi sản xuất dược liệu hoàn chỉnh, đủ điều kiện xây dựng thương hiệu và mở rộng thị trường tiêu thụ.
Từ thành công của mô hình trồng nấm lim xanh, xã Châu Sơn định hướng sẽ nhân rộng mô hình để nấm lim xanh trở thành thương hiệu của địa phương. Khi sản phẩm được định danh rõ ràng, có vùng trồng ổn định và được tổ chức sản xuất theo chuỗi, giá trị kinh tế mang lại cho người dân sẽ bền vững hơn.