Nghệ nhân thế giới và hành trình giữ hồn di sản
Ở tuổi 73, Nghệ sĩ Nhân dân (NSND) Xuân Hoạch - người được tổ chức World Masters công nhận là nghệ nhân thế giới, vẫn bền bỉ gắn bó với xẩm, ca trù bằng một thái độ lặng lẽ nhưng kiên định. Với ông, đó không chỉ là biểu diễn nghệ thuật, mà là hành trình giữ nghề, truyền nghề và khơi dậy sự quan tâm của cộng đồng, đặc biệt là lớp trẻ, đối với những di sản âm nhạc truyền thống từng đứng trước nguy cơ mai một.

Người nặng lòng với âm nhạc dân gian
NSND Xuân Hoạch quê ở huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình cũ (nay là tỉnh Hưng Yên) - một vùng quê giàu truyền thống văn hóa dân gian. Con đường đến với âm nhạc của ông không bắt đầu từ những sân khấu lớn hay môi trường đào tạo bài bản, mà từ đội văn nghệ không chuyên của xã. Thuở nhỏ, ông tự học nhạc cụ, say mê những làn điệu dân gian bằng sự tò mò và tình yêu rất tự nhiên của một cậu bé làng quê.
Theo đuổi đam mê, và từ những phong trào văn nghệ quần chúng ấy, ông thi tuyển và trúng tuyển vào Học viện Âm nhạc Quốc gia Việt Nam. Sau khi tốt nghiệp đại học, ông về công tác tại Đoàn Ca múa Trung ương, nay là Nhà hát Ca múa nhạc Việt Nam. Sống và làm việc trong môi trường chuyên nghiệp, tâm hồn và tay nghề của người nghệ sĩ được nuôi dưỡng, trau dồi, giúp ông từng bước khẳng định tên tuổi, để rồi được phong tặng danh hiệu Nghệ sĩ Nhân dân.
Được đào tạo bài bản ở bộ môn đàn Nguyệt, NSND Xuân Hoạch còn cho thấy sự uyên thâm khi làm chủ nhiều nhạc cụ truyền thống khác như Nhị, Hồ, Bầu, Đáy… Với đàn Nhị và đàn Bầu, ông chủ yếu tự mày mò, lĩnh hội bằng trải nghiệm cá nhân. Riêng đàn Đáy, nhạc cụ gắn chặt với không gian ca trù, ông tìm đến kép đàn tài danh, nghệ nhân Đinh Khắc Ban để thụ giáo. Những năm tháng ấy là chuỗi ngày khổ luyện không ngơi nghỉ, đổi lại là âm đàn tròn trịa, vững chãi.
Năm 2009 đánh dấu một cột mốc đặc biệt khi ông trở thành học trò của nghệ nhân Phó Thị Kim Đức, đào nương cuối cùng của giáo phường Ca trù Khâm Thiên. Tại đây, ông có thể vừa đàn vừa hát, tạo nên một chỉnh thể biểu diễn nhuần nhuyễn.
Sau khi nghỉ hưu, thay vì an nhàn, ông vẫn gắn bó với những giá trị âm nhạc cổ truyền nơi ít ánh đèn sân khấu, ít hào quang, nhưng đòi hỏi nhiều tâm huyết và sự kiên trì. Ông tham gia sinh hoạt tại Câu lạc bộ truyền thống của UNESCO Hà Nội, dành phần lớn thời gian cho việc phục hồi và lan tỏa hát xẩm, ca trù.
Cơ duyên đến với xẩm, theo lời ông, là hoàn toàn vô tình. Năm 2003, trong một CD cá nhân, ông thử đưa vào một bài xẩm, vừa đàn bầu, vừa gõ, vừa hát. Cách thể hiện mộc mạc, giản dị ấy lại tạo nên dấu ấn khác biệt, khiến giới chuyên môn chú ý. Từ đó, ông được mời tham gia các hoạt động phục hồi xẩm, trở thành một trong những người góp phần quan trọng trong quá trình đưa loại hình âm nhạc dân gian này trở lại đời sống đương đại.
Sau nhiều năm nhìn lại, NSND Xuân Hoạch không giấu được niềm vui khi xẩm và ca trù ngày nay đã có nhiều câu lạc bộ, nhiều không gian biểu diễn, đặc biệt là sự tham gia ngày càng đông của người trẻ, nhất là tại Hà Nội. Với ông, đó là thành quả đáng quý nhất của một hành trình bền bỉ và âm thầm.
Giữ xẩm, ca trù trong lặng lẽ
Kể về những giai đoạn khó khăn nhất, NSND Xuân Hoạch bộc bạch: Cả xẩm và ca trù đều từng trải qua những thời điểm gần như không có đất sống. Chiến tranh khiến đời sống nghệ thuật bị gián đoạn. Ngay cả trong thời bình, xẩm và ca trù vẫn chịu nhiều hạn chế bởi cơ chế quản lý và sự thờ ơ của xã hội.
Ông nhớ lại quãng thời gian các nghệ nhân như cụ Quách Thị Hồ, cụ Kim Đức… lặng lẽ giữ nghề trong cảnh thiếu thốn, hầu như không được quan tâm. Đó là nỗi trăn trở lớn nhất của những người trong cuộc, muốn giữ di sản nhưng thiếu điều kiện để làm nghề một cách bài bản, lâu dài.
Phải đến khi GS Trần Văn Khê giới thiệu ca trù ra thế giới, xã hội mới nhìn lại giá trị của loại hình này. Từ đó, bắt đầu có những động thái quan tâm, phục hồi. Theo NSND Xuân Hoạch, sự trở lại ấy có thể muộn, nhưng còn giữ được di sản đã là điều đáng mừng.
Ngày nay, NSND Xuân Hoạch được công chúng gọi bằng cái tên thân thương “ông Xẩm”. Với NSND Xuân Hoạch, danh xưng ấy không phải để tự hào, mà là một trách nhiệm. Ông nhìn nhận thẳng thắn rằng nghệ thuật truyền thống hiện nay đã có sự quan tâm hơn từ Nhà nước và xã hội, nhưng vẫn chưa đủ để người làm nghề yên tâm. Nhiều hoạt động phục hồi vẫn dựa vào sự tự vận động của nghệ nhân.
Trong bối cảnh đó, sân khấu nhỏ tại chợ Đồng Xuân trở thành một trong những không gian hiếm hoi để xẩm được biểu diễn thường xuyên. Ở đây, NSND Xuân Hoạch và các cộng sự không chỉ hát, mà còn trò chuyện, giải thích cho khán giả, đặc biệt là giới trẻ, về lịch sử, tinh thần và cái hay của xẩm. Bởi ông cho rằng: muốn giữ được di sản thì trước hết phải giúp người nghe hiểu, rồi từ hiểu mới dẫn tới yêu và gắn bó.
Thực tế cho thấy, khi đã được tiếp cận đúng cách, khán giả trẻ không hề quay lưng với nghệ thuật truyền thống. Trái lại, họ tò mò, say mê và chủ động tìm đến học. Nhiều học sinh, sinh viên tham gia các lớp hát xẩm, đưa xẩm vào các hoạt động văn nghệ học đường, coi đó như một cách khám phá và khẳng định bản sắc văn hóa.
Tuy vậy, theo NSND Xuân Hoạch, những tín hiệu tích cực ấy chỉ thực sự bền vững khi có chính sách dài hơi. Điều các nghệ nhân cần không phải là những khoản đầu tư lớn, mà là sự quan tâm đồng bộ, một không gian ổn định để tập luyện, một khoản kinh phí đủ để đi lại, duy trì hoạt động, và sự phối hợp chặt chẽ giữa các cấp quản lý văn hóa. Hiện nay, nhiều nhóm nghệ nhân vẫn phải tập luyện tại nhà riêng, mỗi người một nơi, vừa bất tiện, vừa thiếu điều kiện lâu dài.
Điều khiến ông an lòng là lớp trẻ đang được tiếp cận di sản từ sớm. Từ các câu lạc bộ, đến những lớp học nhỏ cho thiếu nhi hay cả trong trường học… nghệ thuật truyền thống, trong đó có ca trù và xẩm, đang được gieo mầm theo cách bền bỉ, giống như cách các nghệ nhân xưa từng làm: truyền dần, giữ dần, không ồn ào nhưng lâu bền.
Hành trình của NSND Xuân Hoạch không phải là câu chuyện của hào quang, mà là câu chuyện của sự kiên trì và niềm tin. Trong dòng chảy gấp gáp của đời sống hiện đại, những con người như ông chính là điểm tựa âm thầm để xẩm, ca trù và nghệ thuật truyền thống Việt Nam không bị đứt gãy, tiếp tục hiện diện một cách chậm rãi nhưng vững vàng trong đời sống hôm nay.