Tăng trưởng hai con số – Lời giải từ đầu tàu kinh tế - Bài cuối: Để tăng trưởng hai con số thành hiện thực
Trong bối cảnh kinh tế thế giới tiếp tục biến động, mục tiêu tăng trưởng hai con số của Việt Nam được đặt ra như một định hướng chiến lược dài hạn gắn với khát vọng phát triển đất nước. PGS.TS Trần Hoàng Ngân – Đại biểu Quốc hội, Chủ tịch Hội đồng Tư vấn đột phá phát triển Trường Đại học Sài Gòn cho rằng, mục tiêu này hoàn toàn có cơ sở nếu Việt Nam biết phát huy đồng thời các động lực truyền thống và động lực mới, tháo gỡ các điểm nghẽn thể chế, đồng thời bảo đảm vững chắc ổn định kinh tế vĩ mô.

Phải dựa trên nền tảng thực chất và bền vững
PV:Thưa ông, trong bối cảnh kinh tế thế giới còn nhiều biến động, ông đánh giá như thế nào về khả năng thực hiện mục tiêu tăng trưởng hai con số của Việt Nam trong năm nay cũng như những năm tới?
PGS.TS Trần Hoàng Ngân: Việt Nam đang bước vào kỷ nguyên mới với mục tiêu đến năm 2030 và năm 2045, tương ứng với hai dấu mốc 100 năm thành lập Đảng và 100 năm thành lập nước, đạt tăng trưởng hai con số. Vấn đề đặt ra, phải tăng trưởng thực chất, tức là đảm bảo trên nền tảng kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, đảm bảo an sinh xã hội. Điều đó cũng có nghĩa, không chạy theo con số bằng mọi giá. Tăng trưởng cũng phải thích ứng linh hoạt với điều kiện trong nước và thế giới.
Trong bối cảnh hiện nay, kinh tế toàn cầu vẫn đang đối mặt với nhiều bất định. Điển hình như lạm phát ở nhiều nền kinh tế lớn, xung đột địa chính trị còn kéo dài, thương mại quốc tế tiềm ẩn rủi ro, chuỗi cung ứng tiếp tục tái cấu trúc mạnh mẽ. Những yếu tố đó chắc chắn tác động đến Việt Nam vì nền kinh tế nước ta có độ mở rất lớn. Do đó, khi nói đến mục tiêu tăng trưởng hai con số, cần hiểu đây là định hướng cho cả giai đoạn chứ không phải áp lực cứng nhắc cho từng quý hay từng năm. Sẽ có năm tăng nhanh hơn, có năm chậm lại tùy điều kiện thực tế, nhưng xuyên suốt phải giữ được những nguyên tắc cốt lõi là ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an toàn tài chính quốc gia, giữ vững an ninh tiền tệ và kiểm soát lạm phát. Đây là điều kiện tiên quyết để nền kinh tế có thể tăng tốc bền vững trong dài hạn.
Để đạt được mức tăng trưởng hai con số, theo ông đâu là những động lực then chốt mà Việt Nam cần tập trung trong giai đoạn hiện nay?
- Muốn đạt được tốc độ tăng trưởng cao, điều đầu tiên là phải khai thác tối đa toàn bộ tiềm năng, tiềm lực hiện có của nền kinh tế. Không thể chỉ trông chờ vào một vài ngành hay một vài địa phương. Yêu cầu tất cả các lĩnh vực, các vùng kinh tế đều phải có chương trình hành động cụ thể. Bên cạnh đó, Việt Nam cần tập trung vào bốn trụ cột mang tính đột phá. Trước hết là ba đột phá chiến lược được xác định từ nhiều năm nay. Trong đó bao gồm: hoàn thiện thể chế, phát triển hạ tầng đồng bộ và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Đây vẫn là ba nền tảng cốt lõi quyết định năng lực cạnh tranh quốc gia.
Bên cạnh ba trụ cột đó, đột phá mũi nhọn hiện nay chính là khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số cũng đóng vai trò quan trọng không kém, tác động lan tỏa đến toàn bộ nền kinh tế. Việt Nam đang sở hữu nhiều tiềm năng và lợi thế quan trọng để tạo bứt phá trong giai đoạn phát triển mới. Từ nền tảng thành quả gần 40 năm đổi mới, đất nước bước vào một giai đoạn phát triển với tâm thế tự tin hơn. Đây cũng là cơ sở để củng cố tinh thần tự hào dân tộc, phát huy mạnh mẽ nội lực, giữ vững định hướng tự chủ, tự lực, tự cường trong quá trình phát triển. Trong bối cảnh đó, việc tập trung khai thác hiệu quả các lợi thế sẵn có sẽ có hiệu quả quan trọng.

Một trong số đó chính là kinh tế biển, với đường bờ biển dài, chúng ta có điều kiện phát triển đồng thời du lịch biển, logistics cảng biển, năng lượng tái tạo ngoài khơi, thủy sản và dầu khí. Có chiến lược đúng, kinh tế biển chắc chắn thành động lực tăng trưởng rất lớn trong nhiều thập niên tới. Nông nghiệp - một trụ cột quan trọng nhưng cần thay đổi cách phát triển, chuyển sang nông nghiệp công nghệ cao, nông nghiệp xanh, nâng giá trị gia tăng cho nông sản. Một lợi thế khác là văn hóa. Việt Nam có bản sắc văn hóa rất phong phú, nếu biết phát triển công nghiệp văn hóa gắn với du lịch sẽ tạo ra giá trị lớn. Cuối cùng, lợi thế lớn nhất vẫn là con người Việt Nam với trí tuệ, khả năng thích ứng nhanh để phát triển các ngành dịch vụ chất lượng cao.
Mở rộng dư địa tăng trưởng
Vậy theo ông, ngoài các yếu tố trên, vai trò của các thành phần kinh tế, đặc biệt là kinh tế tư nhân và kinh tế nhà nước cần được phát huy như thế nào để tạo thêm động lực tăng trưởng?
- Trong cấu trúc nền kinh tế hiện nay, kinh tế tư nhân đang đóng góp trên 50% GDP, cho nên kinh tế tư nhân lúc nào cũng là động lực tăng trưởng cực kỳ quan trọng. Nghị quyết 68 giúp khu vực tư nhân là động lực tăng trưởng, tuy nhiên Quốc hội phải giám sát việc thực thi xem địa phương nào chưa thực hiện. Điều DN tư nhân cần nhất, môi trường kinh doanh thuận lợi, thủ tục hành chính minh bạch, khả năng tiếp cận vốn, đất đai, công nghệ và nguồn nhân lực chất lượng cao. Trường hợp tháo gỡ được các rào cản này, khu vực tư nhân sẽ phát huy năng lực rất nhanh.
Đối với khu vực kinh tế nhà nước (chiếm trên 25% GDP) - khu vực đang nắm giữ nhiều nguồn lực quan trọng của quốc gia, yêu cầu đặt ra là phải nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực này theo Nghị quyết 79. Muốn vậy cần tiếp tục cải cách quản trị DN nhà nước, tăng tính minh bạch, nâng hiệu quả đầu tư và loại bỏ tâm lý e ngại trách nhiệm trong quản lý, góp phần tăng trưởng nhiều cho nền kinh tế. Ngoài ra còn được sự cộng hưởng từ khu vực đầu tư nước ngoài, Việt Nam cần chuyển mạnh từ thu hút số lượng sang chất lượng…
Có thể nói, chưa bao giờ Việt Nam có cơ hội phát triển kinh tế tốt như hiện nay. Thể chế trở thành mũi nhọn, công cụ để cạnh tranh và phát triển.
Liên quan đến những điểm nghẽn hiện nay như giải ngân đầu tư công hay năng suất lao động, theo ông cần tháo gỡ như thế nào?
- Một trong những điểm nghẽn lớn hiện nay là tốc độ ra quyết định còn chậm. Nhiều dự án đầu tư công, nhiều chương trình phát triển bị kéo dài vì quy trình thủ tục qua nhiều tầng nấc. Do đó, giải pháp rất quan trọng là tiếp tục đẩy mạnh phân cấp, phân quyền cho địa phương. Khi địa phương có quyền chủ động cao hơn, đặc biệt các trung tâm kinh tế lớn thì tiến độ xử lý công việc sẽ nhanh hơn và sát thực tiễn hơn. Song song với đó, phải hoàn thiện trách nhiệm đi kèm quyền hạn, để địa phương chủ động nhưng vẫn bảo đảm hiệu quả quản trị. Khi các nút thắt thể chế được tháo gỡ, đầu tư công được đẩy nhanh, các dự án hạ tầng lớn hoàn thành đúng tiến độ, hiệu ứng lan tỏa đối với tăng trưởng sẽ rất mạnh. Về năng suất lao động, phải gắn chặt với khoa học công nghệ, chuyển đổi số. DN vẫn vận hành theo mô hình cũ rất khó tạo ra bước nhảy về năng suất.
Riêng với TP Hồ Chí Minh – đầu tàu kinh tế của cả nước, cần có cơ chế gì để tạo đột phá tăng trưởng trong giai đoạn tới, thưa ông?
- TP Hồ Chí Minh hiện nay đã phát triển ở quy mô rất lớn, thực chất là một siêu đô thị với phạm vi ảnh hưởng vượt ra ngoài ranh giới hành chính. Động lực tăng trưởng của thành phố không chỉ nằm trong nội tại còn gắn chặt với liên kết vùng. Chính vì vậy, thành phố cần một thể chế đủ mạnh, đủ linh hoạt và tương thích với vai trò đặc biệt của mình. Theo tôi, về lâu dài cần xây dựng một khung pháp lý riêng cho đô thị đặc biệt, cụ thể là Luật đô thị. Từ đó, thành phố có quyền chủ động hơn trong quản lý và phát triển. Đầu tàu tăng tốc mạnh, hiệu ứng lan tỏa sẽ rất lớn đối với toàn vùng kinh tế trọng điểm phía Nam cũng như cả nước. Đây là yếu tố có ý nghĩa chiến lược trong mục tiêu tăng trưởng cao của Việt Nam trong những năm tới.
Xin trân trọng cảm ơn ông!
Theo HSBC Việt Nam, Việt Nam ngày càng trở thành một trụ cột trong câu chuyện tăng trưởng nội vùng châu Á, kết hợp giữa động lực kinh tế mạnh mẽ, dân số trẻ và dòng vốn đầu tư nước ngoài gia tăng. Việc FTSE Russell nâng hạng Việt Nam lên nhóm Thị trường mới nổi thứ cấp (Secondary Emerging), có hiệu lực từ ngày 21/9/2026, nhiều khả năng sẽ thu hút thêm sự chú ý của nhà đầu tư toàn cầu, từ đó có thể hỗ trợ thu hút dòng vốn quốc tế quy mô lớn hơn.