Xây dựng thương hiệu văn hóa “made in Vietnam”
Việt Nam hiện có hàng nghìn di sản văn hóa vật thể và phi vật thể, cùng nền văn hóa đa dạng. Đây là nguồn tài nguyên giàu giá trị để phát triển công nghiệp văn hóa, du lịch và quảng bá hình ảnh đất nước. Tuy nhiên, thực tế cho thấy, Việt Nam vẫn chưa hình thành được nhiều biểu tượng văn hóa đủ mạnh để thế giới có thể lập tức nhận diện.
Chưa được khai thác hết tiềm năng
Trong nhiều năm, việc bảo tồn di sản chủ yếu được nhìn dưới góc độ gìn giữ và lưu trữ. Không ít giá trị văn hóa vẫn tồn tại trong không gian bảo tàng, lễ hội hay hồ sơ di sản, nhưng chưa được chuyển hóa mạnh mẽ thành sản phẩm sáng tạo mang hơi thở đương đại. Khoảng cách lớn nhất hiện nay không nằm ở việc thiếu tài nguyên văn hóa, mà ở khả năng kể lại câu chuyện văn hóa bằng ngôn ngữ mới, phù hợp với công chúng.
Trong khi đó, nhiều quốc gia ở châu Á như Nhật Bản, Hàn Quốc… đã thành công khi đưa văn hóa trở thành ngành công nghiệp có giá trị kinh tế và sức ảnh hưởng quốc tế. Còn ở châu Âu, đã nhiều nơi đưa những chương trình festival nghệ thuật thành thương hiệu văn hóa riêng, thu hút hàng triệu du khách mỗi năm.
Theo nhiều chuyên gia, Việt Nam hiện không thiếu chất liệu văn hóa, nhưng còn hạn chế trong việc xây dựng những sản phẩm có khả năng tạo đồng cảm và kết nối quốc tế. Khi văn hóa được chuyển hóa thành trải nghiệm, sản phẩm hay dịch vụ sáng tạo, nó mới thực sự tạo ra giá trị kinh tế và ảnh hưởng xã hội lâu dài.
Bà Phan Minh Thu - giảng viên bộ môn Xây dựng thương hiệu, Trường Đại học Văn hóa Hà Nội cho rằng, Việt Nam có nhiều tài nguyên, sản phẩm văn hóa, nhưng còn hạn chế trong khả năng kể một câu chuyện có đủ sức tạo đồng cảm với quốc tế.
Thời gian qua, một số chương trình như Festival Huế, Lễ hội Pháo hoa Quốc tế Đà Nẵng, các chương trình nghệ thuật thực cảnh hay nhiều hoạt động văn hóa đương đại tại một số địa phương, đã bước đầu cho thấy khả năng kết nối giữa di sản, du lịch và công nghiệp sáng tạo.
Một số chương trình như “Tinh hoa Bắc Bộ”, “Ký ức Hội An” hay nhiều dự án âm nhạc khai thác chất liệu dân gian của nghệ sĩ trẻ đã cho thấy tiềm năng đưa bản sắc Việt đến gần hơn với công chúng hiện đại. Không ít sản phẩm văn hóa hiện nay cũng tận dụng nền tảng số, mạng xã hội và công nghệ để lan tỏa nhanh hơn tới giới trẻ và bạn bè quốc tế.
Tuy nhiên, thực tế cũng cho thấy nhiều hoạt động văn hóa vẫn thiếu bản sắc riêng, còn trùng lặp về hình thức hoặc nặng tính phong trào. Không ít lễ hội, festival được tổ chức quy mô lớn nhưng chưa tạo được dấu ấn dài hạn. Việc khai thác di sản ở một số nơi còn thiên về thương mại hóa hoặc chạy theo xu hướng ngắn hạn mà thiếu chiều sâu văn hóa.

Sức mạnh mềm từ chiều sâu văn hóa
Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam trong kỷ nguyên mới được xem là bước chuyển quan trọng trong tư duy phát triển văn hóa. Trong đó, mục tiêu phát triển các ngành công nghiệp văn hóa, xây dựng thương hiệu quốc gia và thương hiệu địa phương từ các sản phẩm giàu bản sắc đã mở ra hướng đi mới cho văn hóa Việt Nam.
Trước xu thế cạnh tranh toàn cầu hiện nay, thương hiệu văn hóa không đơn thuần là hình ảnh quảng bá, mà còn phản ánh năng lực kể chuyện, sáng tạo và lan tỏa giá trị của một quốc gia. Muốn tạo dựng vị thế bằng văn hóa, Việt Nam cần nhiều hơn những sản phẩm có chiều sâu, có tính hiện đại nhưng vẫn giữ được tinh thần dân tộc.
Các chuyên gia cho rằng cần xây dựng hệ sinh thái đồng bộ cho công nghiệp văn hóa, từ cơ chế chính sách, nguồn nhân lực sáng tạo đến đầu tư dài hạn cho các sản phẩm văn hóa có tiềm năng quốc tế. Đồng thời, cần khuyến khích sự tham gia của doanh nghiệp, nghệ sĩ trẻ, nhà sáng tạo nội dung và cộng đồng trong quá trình làm mới di sản.
Theo ông Lê Quốc Vinh - Chủ tịch HĐQT kiêm Tổng Giám đốc Tập đoàn Truyền thông Lê (Le Group of Companies), thương hiệu quốc gia phải là những thương hiệu, sản phẩm hoặc dịch vụ có khả năng đại diện, định hình và nâng tầm giá trị quốc gia trên thị trường thế giới; mang đậm bản sắc văn hóa Việt Nam. Để văn hóa Việt Nam từng bước xây dựng vị thế và dấu ấn trên thị trường quốc tế, cần có một chiến lược thương hiệu quốc gia bài bản, dài hạn và đủ rõ nét. Cơ quan quản lý nhà nước giữ vai trò định hướng thông qua việc hoạch định chính sách, tạo dựng môi trường cạnh tranh minh bạch, hỗ trợ xúc tiến thương mại và mở rộng cơ hội tiếp cận thị trường, từ đó tạo nền tảng để doanh nghiệp phát triển và lan tỏa thương hiệu Việt ra thế giới.
Đại diện TikTok Việt Nam, ông Nguyễn Lâm Thanh cho rằng, cần có chiều sâu, diện rộng khu xây dựng thương hiệu quốc gia các ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam. Trong đó, cần lựa chọn những lĩnh vực có thế mạnh nổi bật trong hệ sinh thái công nghiệp văn hóa để đầu tư phát triển thành thương hiệu quốc gia; đồng thời gắn với thế mạnh, bản sắc của từng địa phương. Đồng thời, chiến lược phát triển cần đủ linh hoạt và bao trùm để doanh nghiệp nhỏ, các nhóm sáng tạo hay cá nhân làm nội dung đều có cơ hội tham gia. Nếu còn tồn tại những vướng mắc về cơ chế, chính sách, cơ quan quản lý cần nhanh chóng tháo gỡ.
Thương hiệu văn hóa không thể hình thành trong thời gian ngắn. Đó là quá trình tích lũy lâu dài từ bản sắc, tư duy sáng tạo và cách một dân tộc kể câu chuyện của mình với thế giới. Khi di sản được chuyển hóa thành những sản phẩm sống động, gần gũi với đời sống đương đại, văn hóa sẽ không chỉ dừng ở giá trị tinh thần mà còn trở thành nguồn lực phát triển và góp phần định vị hình ảnh Việt Nam trên bản đồ toàn cầu.