Báu vật rừng xanh

Hạnh Nguyên

Ở chốn núi non sâu thẳm biên giới Việt - Lào có hàng nghìn cây lim xanh trên 100 tuổi, đây được coi là “báu vật” của người dân xã Sơn Kim 1 (huyện Hương Sơn, Hà Tĩnh). Việc trông coi, chăm sóc, bảo vệ những sản vật quý này không ai khác chính là người dân bản địa.

Báu vật rừng xanh - Ảnh 1

Có một cây là có rừng…

Một ngày hè oi bức tháng 7, trước khi dẫn chúng tôi đi đến với rừng lim, kiểm lâm viên địa bàn Đoàn Doanh Tuyên (Hạt Kiểm lâm huyện Hương Sơn) cảnh báo: “Các nhà báo chuẩn bị tinh thần, thời tiết này đi rừng sẽ gian nan lắm, thở không ra hơi đâu”.

Trong người mang sẵn khí thế hừng hực của cuộc khám phá rừng xanh, nghĩ đến rừng già tỏa bóng mát rượi, chúng tôi không hề ngần ngại mà sẵn sàng khăn gói lên đường.

Đi bộ len lỏi qua rừng cây rậm rạp, đường đá gồ ghề, dốc dựng, khi mồ hôi thấm ướt áo, chúng tôi mới đặt chân đến khu rừng có độ cao gần 200 m so với mực nước biển. Đập vào mắt chúng tôi là cả rừng cây bản địa như lim, kiền kiền, dổi, chua, dẻ… nằm san sát nhau, xếp tầng tầng, lớp lớp. Trong đó, có nhiều gốc lim xanh tuổi đời vượt qua con số 100, chu vi lên đến 300 cm, vỏ sần sùi, khép tán, đứng sừng sững giữa đại ngàn.

Chủ rừng của những gốc lim này không phải doanh nghiệp hay tổ chức nhà nước mà là những cá nhân, hộ gia đình đang nằm trong diện khó khăn, kinh tế eo hẹp. Cả gia đình anh Lưu Trọng Bằng (46 tuổi, thôn Khe Năm, xã Sơn Kim 1) nhận chăm sóc, bảo vệ gần 8 ha rừng tự nhiên suốt những năm đầu thập niên 90 của thế kỷ trước.

Anh Bằng chia sẻ, sau khi bố mẹ anh qua đời, anh nhận “thừa kế” chăm sóc diện tích rừng nói trên với hai bàn tay trắng. Cuộc sống khó khăn, chật vật nhưng vì nhớ lời căn dặn của bố mẹ “giữ rừng là giữ môi trường sống cho con cháu” nên gần ba thập kỷ qua, gia đình anh chưa bao giờ chặt một cây gỗ đem bán.

Để bảo vệ, chăm sóc rừng quý, nhiều lúc gia đình anh Bằng cận kề với hiểm nguy. Anh nhớ như in, năm 1997 khi bắt quả tang một nhóm lâm tặc đang chặt trộm gỗ dổi trong rừng, gia đình anh còn bị các đối tượng chửi bới, dọa hành hung. “Hàng năm chúng tôi chỉ trồng dặm làm giàu rừng và sẻ phát chăm sóc. Công tác bảo vệ rừng cực nhọc, nguy hiểm như vậy nhưng chính sách hỗ trợ của nhà nước dành cho đối tượng như chúng tôi chưa có nên rất thiệt thòi”, anh Bằng nói.

Anh Lưu Trọng Bằng (bên phải) chăm sóc 8 ha rừng tự nhiên.
Anh Lưu Trọng Bằng (bên phải) chăm sóc 8 ha rừng tự nhiên.

Cách rừng anh Bằng không xa là khu rừng xanh tốt của gia đình ông Trần Ngọc Lâm (60 tuổi) và bà Trần Thị Đào (59 tuổi). Theo lời ông Lâm, năm 1980, ông gia nhập quân ngũ, công tác chính thức tại Quân Khu 4, còn vợ làm công nhân tại Lâm trường Hương Sơn (nay là Cty TNHH MTV lâm nghiệp và dịch vụ Hương Sơn).

Lúc bấy giờ, kiếm được việc làm với mức thu nhập ổn định như ông bà Lâm Đào không hề dễ dàng. Tuy nhiên, bất cập là cảnh vợ chồng xa cách, khó khăn trong việc nuôi dạy con cái. Cuối năm 1990, chính quyền năm lần bảy lượt vận động người dân thôn Khe Năm nhận rừng để chăm sóc, bảo vệ nhưng chẳng ai ngó ngàng. Ông Lâm vì muốn ở gần vợ con nên đứng ra nhận gần 27 ha rừng ở tiểu khu 51, thôn Khe Năm trong đó, rừng tự nhiên 21,8 ha; rừng trồng 5 ha.

“Lúc bấy giờ cả khu rừng gần như không còn gì, cây gỗ nào chu vi trên 100 cm đều bị khai thác hết. Ban đầu chúng tôi nhận rừng vì nghĩ khi cần que củi, cây nứa có để chặt phục vụ nhu cầu trong gia đình nhưng về sau mới thấm thía giá trị của rừng là vô giá”, ông Lâm trải lòng.

Theo ông Lâm, những năm 1990-1992, rừng ở đây bị tổn thương nghiêm trọng, lâm tặc hoành hành, vì thế, mùa hè giếng nước của các hộ dân trong thôn cạn trơ đáy, nhiều hộ đào giếng sâu hơn 20 m nhưng vẫn không có giọt nước nào. Mọi sinh hoạt phải dựa vào nước trời và các khe suối.

Nhận thấy tác hại của việc mất rừng quá nghiêm trọng, ngoài bảo vệ nghiêm ngặt diện tích cây rừng hiện có, gia đình ông Lâm vay vốn trồng keo trên diện tích rừng sản xuất và làm giàu diện tích rừng tự nhiên bằng các loài cây bản địa như lim xanh, dổi, kiền kiền... bình quân mỗi năm ông trồng 3.000 cây. Hiện hàng vạn cây bản địa trồng từ năm 1992-1993 đã phát triển đạt chu vi trên 60 cm; tỷ lệ cây sống hàng năm đạt trên 60%.

“Nhờ bảo vệ tốt rừng và thảm thực vật nên hơn chục năm nay dù hạn hán gay gắt người dân Khe Năm cũng không bao giờ thiếu nước sinh hoạt. Chất lượng nước từ các khe suối được chuyên gia Nhật Bản đánh giá rất sạch”, bà Trần Thị Đào tiếp lời chồng.

Theo rà soát, đánh giá của lực lượng chức năng, trong diện tích rừng hộ ông Lâm quản lý có khoảng 150 cây lim xanh có chu vi từ 150 – 300 cm và hàng nghìn cây chu vi dưới 150 cm. Trong đó, nhiều gốc tồn tại hơn 100 năm, nhiều hơn tuổi đời của chính ông.

Khó khăn khi giữ rừng quý

Ở thôn Khe Năm xã Sơn Kim 1, không chỉ gia đình ông Lâm, anh Bằng quyết tâm giữ rừng, nuôi dưỡng “báu vật” mà cả cộng đồng dân cư nơi đây đều đồng sức, đồng lòng bởi với họ, “rừng là vàng”.

Cách đây chừng 10 năm, lúc đó ý thức giữ rừng của người dân còn hạn chế, để bảo vệ diện tích rừng được giao, ông Lâm cùng 10 hộ dân trong thôn thành lập Chi hội bảo vệ rừng bền vững. Các hộ dân phối hợp với lực lượng Kiểm lâm, Bộ đội Biên phòng, chính quyền địa phương thay phiên nhau tuần tra, canh gác rừng, hỗ trợ xử lý lâm tặc chặt trộm gỗ.

Hay thời điểm tháng 4 đến tháng 7 âm lịch hàng năm, nhiều hộ dân xem rừng là nhà, nhà là khách sạn. Cứ 5-6h sáng đem theo cơm đùm cơm nắm, nước, sữa lên rừng lấy mật ong và “canh” lửa, đề phòng cháy rừng, đến khoảng 17-18h chiều mới về nhà.

Riêng hộ ông Lâm, nhờ siêng năng, chịu khó, mỗi năm gia đình tận thu được từ rừng (lấy mật ong và cây dược liệu) trên dưới 70 triệu đồng. Đặc biệt, 5 ha keo sắp đến kỳ thai thác, ước sẽ mang lại hàng trăm triệu đồng cho gia đình ông.

Ông Đoàn Doanh Tuyên, Kiểm lâm viên địa bàn đánh giá, gia đình ông Lâm, anh Bằng không chỉ là những hộ dân điển hình trong công tác quản lý, chăm sóc, bảo vệ rừng tự nhiên đầu nguồn mà còn tiên phong thay đổi tư tưởng sống dựa vào khai thác rừng của đại bộ phận dân Sơn Kim I. Họ đã chủ động chuyển hướng sang sản xuất rừng gỗ lớn, nâng cao giá trị gia tăng của chuỗi lâm sản để đảm bảo tăng trưởng bền vững.

Theo ông Tuyên, trước đây dù lực lượng chức năng siết chặt cỡ nào thì đâu đó cũng có một số diện tích rừng bị “chảy máu”. Tuy nhiên, độ dăm năm trở lại đây, ý thức bảo vệ rừng của bà con nâng lên rõ rệt đã giảm áp lực tuần tra, kiểm soát cho lực lượng chức năng. Bây giờ, các vụ việc khai thác lâm sản trái phép trên địa bàn xã Sơn Kim I nói riêng, huyện Hương Sơn nói chung gần như đã được ngăn chặn triệt để.

Theo người dân, việc Chính phủ siết chặt quản lý, bảo vệ rừng tự nhiên, đặc biệt là rừng đầu nguồn biên giới Việt - Lào như xã Sơn Kim I là rất đúng đắn. Song, quy định cũng cần căn cứ thực tiễn để xây dựng.

“Như đặc thù ở thôn Khe Năm, 100% dân số sống dựa vào rừng nhưng rừng không được tác động, cũng không nhận được một chính sách hỗ trợ công bảo vệ nào thì rất bất cập”, ông Trần Ngọc Lâm nói.

Đồng quan điểm, kiểm lâm viên Đoàn Danh Tuyên cho rằng, Chính phủ cần nghiên cứu, cho phép hộ gia đình tận thu đối với những cây gỗ bị chết do yếu tố thiên tai. Như vậy vừa khai thác hiệu quả tài nguyên thiên nhiên vừa tạo thu nhập cho người dân, tăng thêm động lực cho hộ gia đình giữ rừng.

Khi tiếp cận những nông dân cần mẫn, chịu thương, chịu khó ở non xanh này, tôi càng thấm hiểu hơn những lời nhắn nhủ của nhạc sỹ Trần Long Ẩn trong bài hát “Một đời người, một rừng cây”: Có một cây là có rừng, và rừng sẽ lên xanh rừng giữ đất quê hương. Đây cũng chính là tâm niệm của những người giữ rừng lim xanh trăm tuổi.

Tin liên quan

Tin nổi bật

Tin cùng chuyên mục

Tin nóng

Xem nhiều nhất