Tìm mô hình thích hợp phát triển ĐBSCL, thích ứng với biến đổi khí hậu

Quốc Trung

Ngày 26/9, Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Thủ tướng Chính phủ, Trưởng Ban Chỉ đạo Tây Nam Bộ Vương Đình Huệ; Phó thủ tướng Trịnh Đình Dũng chủ trì Hội nghị “Phát triển bền vững vùng Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) thích ứng với biến đổi khí hậu” (BĐKH). Tham gia có gần 500 đại biểu đến từ các Bộ, ban, ngành Trung ương; các chuyên gia, nhà khoa học trong nước và quốc tế; lãnh đạo các tỉnh, thành vùng ĐBSCL.

BĐKH làm lúa khô hạn, chết đứng ngoài đồng.

Thiên nhiên không còn ưu đãi

ĐBSCL là một trong những vùng đất màu mỡ và có sản lượng nông sản lớn nhất khu vực Đông Nam Á và đứng đầu Việt Nam. Tính đến tháng 4/2017, ĐBSCL đóng góp 54% sản lượng lúa, 70% lượng thủy sản nuôi trồng, 36,5% lượng trái cây, cung cấp 90% sản lượng lúa gạo xuất khẩu và 65% sản lượng thuỷ sản xuất khẩu của cả nước. Nhiều mặt hàng nông sản của ĐBSCL đã có mặt và được ưa chuộng tại nhiều nơi trên thế giới…

Tuy nhiên, ĐBSCL đang là 1 trong 4 đồng bằng bị tác động mạnh nhất do BĐKH, nước biển dâng. ĐBSCL đã, đang và sẽ đối mặt với nhiều tác động nghiêm trọng do BĐKH, nước biển dâng, khí hậu cực đoan, khai thác và sử dụng nước ở thượng nguồn sông Mê kông và các hoạt động nhân sinh khác, cũng như từ bản thân mô hình phát triển thiếu tính tổng thể, gắn kết nội tại trong vùng, quản lý nhà nước còn bất cập, thừa chồng chéo, thiếu phối hợp.

Tại phiên khai mạc hội nghị, Phó Thủ tướng Vương Đình Huệ nhấn mạnh: Những tác động này tạo ra các thách thức vô cùng to lớn, đe doạ quá trình phát triển của vùng ĐBSCL, sinh kế, đời sống người dân trong vùng nói riêng và cả nước nói chung, qua đó tác động tới khu vực và quốc tế, đặc biệt là an ninh lương thực. Những ưu thế tự nhiên cho phát triển trước đây và hiện nay của ĐBSCL sẽ thay đổi theo xu thế suy giảm tài nguyên nước, phù sa; sự gia tăng của nước mặn, nước lợ; sụt lún đất và nước biển dâng sẽ tác động lớn tới tài nguyên đất, cơ cấu sử dụng đất, các hệ sinh thái và môi trường, làm thay đổi căn bản mô hình sản xuất, tập quán sinh hoạt, sinh kế và đời sống của người dân trong vùng.

Xây dựng quy hoạch tổng thể

Theo Bộ KH&ĐT, hiện tại có hơn 2.500 quy hoạch vùng ĐBSCL. Số lượng quy hoạch quá nhiều dẫn đến chồng chéo, mâu thuẫn, thiếu liên kết và đồng bộ. Hầu hết các quy hoạch chỉ chú trọng giải quyết vấn đề cục bộ của ngành, địa phương, không đặt trong tổng thế phát triển vùng. Bên cạnh đó, các quy hoạch còn dàn trải, không gắn với nguồn lực, chưa giải quyết được các thách thức và rủi ro  do hoạt động phát triển, BĐKH và thiên tai. Đặc biệt, liên kết vùng còn yếu và thiếu cơ chế quản lý vùng.

Chính phủ đã định hướng xây dựng Quy hoạch tổng thể phát triển vùng ĐBSCL giai đoạn 2030, tầm nhìn đến 2050 xác định mục tiêu tạo ra một khung chiến lược toàn diện cho vùng ĐBSCL làm cơ sở để triển khai các chương trình, dự án đầu tư phát triển đồng bộ hệ thống kết cầu hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội, hạ tầng sản xuất, khai thác hiệu quả các nguồn lực, phát huy tiềm năng, lợi thế của ĐBSCL trong điều kiện BĐKH và xâm nhập mặn.

Định hướng quy hoạch có quan điểm tổng thể phát triển vùng ĐBSCL theo hướng thích ứng với BĐKH, vận hành theo quy luật tự nhiên và phát huy các giá trị của hệ sinh thái bản địa. Chiến lược quy hoạch vùng dựa trên 2 trụ cột là nông nghiệp và thủy sản. Trong đó, xây dựng chiến lược sử dụng nước chủ động của toàn vùng, giải quyết đồng bộ các vấn đề: Thủy lợi, cấp nước, thoát nước, trữ nước, bảo vệ và phục hồi nước ngầm. Quy hoạch cũng định hướng thay đổi tư duy từ sản xuất nông nghiệp bảo đảm an ninh lượng thực, sang phát triển kinh tế nông nghiệp có năng suất và giá trị cao; củng cố phát triển các liên kết chuỗi, liên kết vùng. Đồng thời, phát triển hệ thống hạ tầng, tạo động lực cho phát triển vùng, chủ động thích ứng với BĐKH.

Quy tụ nhiều ý tưởng cho vùng ĐBSCL

Tại hội nghị, các đại biểu đã thảo luận các chuyên đề như: Tổng quan về thách thức, cơ hội và giải pháp chuyển đổi mô hình phát triển cho ĐBSCL; Quy hoạch tổng thể theo hướng tích hợp phát triển vùng ĐBSCL thích ứng với BĐKH; Nông nghiệp bền vững, hạ tầng thuỷ lợi, phòng chống thiên tai và sạt lở. Tại đây, các tổ chức quốc tế như Ngân hàng Thế giới (WB), Tổ chức Hợp tác phát triển Đức (GIZ), Chương trình Phát triển Liên Hợp Quốc (UNDP) cũng đóng góp nhiều ý kiến về các giải pháp chuyển đổi sinh kế bền vững cho vùng ĐBSCL. Các chuyên gia, nhà khoa học, đưa ra các nhận định, đánh giá tổng quan các thách thức đối với ĐBSCL, đồng thời chỉ ra thực trạng và giải pháp chuyển đổi mô hình phát triển kinh tế nông nghiệp, công nghiệp và phân bố không gian sản xuất tại ĐBSCL…

Bàn về vấn đề chuyển đổi mô hình phát triển kinh tế-xã hội vùng ĐBSCL, TS. Hoàng Ngọc Phong, Phó Giám đốc Trung tâm Tư vấn phát triển kinh tế (Hội Khoa học kinh tế Việt Nam) cho rằng, cần thay đổi tư duy về an ninh lương thực. Tại sao chúng ta phải trồng những giống lúa chất lượng thấp để xuất khẩu với giá rẻ, nông dân không có lãi, mà Nhà nước lại phải đầu tư lớn?. Thực tế đã chứng minh, nhiều địa phương ở các vùng ngập mặn đã thay đổi cơ cấu sản xuất từ hai vụ lúa sang một vụ lúa/một vụ tôm/cá và thích nghi tốt với BĐKH, bảo đảm đời sống của người dân mà không tốn quá nhiều chi phí đầu tư ngăn mặn.

Để hướng đến một nền nông nghiệp có năng suất và giá trị cao, TS. Hoàng Ngọc Phong cho rằng, cần đẩy mạnh sản xuất theo chuỗi giá trị, nghĩa là doanh nghiệp phải tham gia đầu tư vào nông nghiệp.

Chuyên gia độc lập về sinh thái ĐBSCL Nguyễn Hữu Thiện chỉ ra những vấn đề cấp bách nhất đối với ĐBSCL hiện nay là sạt lở và sụt lún, đồng thời cho rằng, sụt lún có tác động nhanh hơn nhiều lần so với nước biển dâng. Để khắc phục vấn đề này, đối với các vùng ven biển cần áp dụng công nghệ lọc nước biển để cấp nước sinh hoạt, chuyển đổi canh tác sang hệ thống canh tác mặn, lợ bền vững, ít phụ thuộc nước ngọt. Đối với vùng nội địa, giảm canh tác thâm canh để giảm ô nhiễm, chuyển hướng sang nông nghiệp sạch.

Riêng về trạng sạt lở, ông Nguyễn Hữu Thiện cho rằng, cần lập bản đồ cảnh báo độ rủi ro để chủ động di dời người dân tránh thiệt hại tài sản, tính mạng. Không nên tiêu tốn nguồn lực và những biện pháp công trình lãng phí và kém hiệu quả. Các công trình bờ kè chỉ nên thực hiện ở những nơi cần thiết bảo vệ trong ngắn hạn, vì bờ kè tạo cảm giác “an toàn giả”, khi sụp đổ sẽ có thiệt hại rất lớn.

Bộ trưởng Bộ TN&MT Trần Hồng Hà, cho biết, hội nghị xem xét, đánh giá toàn diện các thách thức, yêu cầu phát triển đối với ĐBSCL, nhận diện cơ hội, huy động sáng kiến, kinh nghiệm và nguồn lực nhằm định hình chuyển đổi mô hình phát triển tổng thể, toàn diện, bền vững cho toàn vùng.

Theo Bộ trưởng Trần Hồng Hà, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc rất trăn trở trước những thách thức, đe dọa đến phát triển bền vững của vùng ĐBSCL từ tác động kép của quá trình phát triển nội tại chưa bền vững, của BĐKH, của các hoạt động từ thượng nguồn làm cho sinh kế của người dân bị ảnh hưởng. Ông Trần Hồng Hà cho biết thêm: Trước đó, vào tháng 7/2017, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đã trao đổi với Chính phủ Hà Lan lựa chọn vùng ĐBSCL để xây dựng hình mẫu chuyển đổi mô hình phát triển bền vững, phát huy tiềm năng, phù hợp với điều kiện tự nhiên, con người và văn hoá trên cơ sở kết hợp khoa học và công nghệ cao với kế thừa tri thức bản địa, biến thách thức thành cơ hội”.

Những định hình cho việc chuyển đổi mô hình phát triển ĐBSCL theo hướng bền vững, thích ứng với biến đổi khí hậu sẽ được đưa ra tại hội nghị của Thủ tướng Chính phủ, sẽ là tín hiệu tốt giúp cho vùng ĐBSCL phát triển ổn định bền vững ứng phó với BĐKH ngày càng khắc nghiệt.

Tin nổi bật

Tin cùng chuyên mục

Khi doanh nghiệp hành động bằng ‘chữ tâm’

Khi doanh nghiệp hành động bằng ‘chữ tâm’

Cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam” qua chặng đường hơn 10 năm đã lan tỏa đến từng địa phương, từng ngõ ngách, thay đổi thói quen tiêu dùng của ...
Kỳ vọng lãi suất ngân hàng tiếp tục giảm

Kỳ vọng lãi suất ngân hàng tiếp tục giảm

Nhận định từ các tổ chức tín dụng (TCTD) cho rằng, nhu cầu vay vốn sẽ phục hồi mạnh hơn; nhu cầu gửi tiền, thanh toán tiếp tục cải thiện nhưng tốc độ chậm lại.
Mở lối cho cảng biển

Mở lối cho cảng biển

Một điểm đặc biệt quan trọng trong xây dựng quy hoạch tổng thể phát triển hệ thống cảng biển Việt Nam giai đoạn 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050 cần được tính tới đó ...

Tin nóng

Xem nhiều nhất