Toàn văn Báo cáo Chính phủ về kết quả phát triển kinh tế - xã hội năm 2017, đầu năm 2018 và nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm thời gian tới (Phần 2)

21. Nghị định số 38/2018/NĐ-CP ngày 11/3/2018 quy định chi tiết về đầu tư cho doanh nghiệp nhỏ và vừa khởi nghiệp sá

Sáng nay, 21/5, tại kỳ họp thứ 5, Quốc hội khóa XIV, Phó Thủ tướng thường trực Trương Hòa Bình trình bày Báo cáo Đánh giá bổ sung kết quả phát triển kinh tế - xã hội năm 2017, tình hình những tháng đầu năm 2018 và nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm thời gian tới. Đại Đoàn Kết trân trọng đăng tải toàn văn báo cáo (Phần 2).

[TOÀN VĂN BÁO CÁO CHÍNH PHỦ VỀ KẾT QUẢ PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI NĂM 2017, ĐẦU NĂM 2018 VÀ NHIỆM VỤ, GIẢI PHÁP TRỌNG TÂM THỜI GIAN TỚI (Phần 3)]

1. Kết quả đạt được những tháng đầu năm 2018

a) Về kinh tế

Kinh tế vĩ mô tiếp tục ổn định; lạm phát được kiểm soát, chỉ số giá tiêu dùng (CPI) bình quân 4 tháng tăng 2,8%; lạm phát cơ bản tăng 1,34% . Chính sách tiền tệ được điều hành chủ động, linh hoạt; hỗ trợ kịp thời các tổ chức tín dụng gặp khó khăn, bảo đảm thanh khoản và an toàn hệ thống. Mặt bằng lãi suất ổn định; tín dụng tập trung cho sản xuất kinh doanh và các lĩnh vực ưu tiên với lãi suất giảm 0,5 - 1% . Tỷ giá, thị trường ngoại hối ổn định; dự trữ ngoại hối nhà nước đạt 63,5 tỷ USD. Tăng cường năng lực tài chính của các tổ chức tín dụng, mở rộng quy mô, mạng lưới, phát triển các dịch vụ thanh toán, tín dụng bán lẻ, tiêu dùng; có giải pháp kiểm soát hoạt động liên quan đến tiền ảo... 

Tăng trưởng kinh tế (GDP) quý I đạt 7,38%, cao nhất 10 năm qua . Điểm nổi bật là cả 3 khu vực đều tăng cao hơn cùng kỳ: nông nghiệp được mùa, tăng 4,05% (cùng kỳ 2,08%); công nghiệp và xây dựng tăng 9,7% (cùng kỳ 4,48%), trong đó ngành chế biến, chế tạo tăng mạnh 13,56%; dịch vụ tăng 6,7% (cùng kỳ 6,36%). Sản lượng nhiều sản phẩm công nghiệp, vật liệu xây dựng tăng mạnh so với cùng kỳ . Tổng cầu của nền kinh tế tiếp tục tăng; tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng 4 tháng tăng 9,8%, loại trừ yếu tố giá còn tăng 8,5% (cùng kỳ 7%). Chỉ số Nhà quản trị mua hàng (PMI) đạt 52,7 điểm, đứng trong nhóm đầu ASEAN.

Xuất khẩu tiếp tục đà tăng mạnh; trong những tháng đầu năm, nhiều đơn hàng xuất khẩu lớn đã được ký kết; tổng kim ngạch 4 tháng đạt 73,76 tỷ USD, tăng 19%; cơ cấu chuyển dịch tích cực, trong đó nhóm hàng công nghiệp chế biến tăng 21,8%. Đã mở thêm thị trường xuất khẩu cho một số hàng nông sản như vú sữa, thanh long, vải, chôm chôm, thịt gà…; riêng mặt hàng gạo tăng 22,3% về lượng và 38,3% về kim ngạch, giá bán tốt hơn, có lợi cho nông dân. Tổng kim ngạch nhập khẩu tăng 10,1%, chủ yếu là nhập nguyên, vật liệu, máy móc thiết bị phục vụ sản xuất, xuất khẩu. Tăng cường kiểm soát hoạt động thương mại biên giới và các biện pháp phòng vệ phù hợp với cam kết quốc tế. Xuất siêu 3,4 tỷ USD, góp phần quan trọng cải thiện cán cân thanh toán. 

Tổng vốn đầu tư toàn xã hội quý I tăng 10,4% (cùng kỳ 9,5%); trong đó vốn đầu tư tư nhân trong nước tăng mạnh 16,9%, thể hiện rõ kết quả thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 (khóa XII) về phát triển kinh tế tư nhân. Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) thực hiện 4 tháng ước đạt 5,1 tỷ USD, tăng 6,3%. Thị trường chứng khoán tiếp tục xu hướng tăng, có thời điểm vượt đỉnh 10 năm (1.170 điểm), hiện đang dao động trong khoảng 1.000 - 1.100 điểm; vốn hóa thị trường cổ phiếu và trái phiếu niêm yết đạt trên 96% GDP. 

Thu NSNN 4 tháng tăng 12,1% so với cùng kỳ, đạt 33,8% dự toán; đáp ứng kịp thời các khoản chi theo kế hoạch và các nhiệm vụ cấp bách, mới phát sinh. Công tác quản lý thị trường, giá cả, phòng chống buôn lậu, gian lận thương mại được tăng cường; bảo đảm cân đối cung cầu các mặt hàng thiết yếu cho sản xuất và đời sống, không để xảy ra thiếu hàng, sốt giá, nhất là trong dịp lễ, Tết. 

Môi trường đầu tư kinh doanh tiếp tục được cải thiện; cải cách thủ tục hành chính có nhiều tiến bộ. Rà soát, có phương án cắt giảm khoảng 50% điều kiện đầu tư kinh doanh trong các lĩnh vực công thương, y tế, giao thông vận tải, xây dựng, nông nghiệp...  Chỉ số cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) bình quân đạt mức cao nhất kể từ khi thực hiện năm 2005 đến nay. Tiếp tục hoàn thiện cơ chế, chính sách, tháo gỡ khó khăn, vướng mắc, nhất là các quy định về đầu tư, xây dựng, đất đai, môi trường... Trong 4 tháng có trên 41 nghìn doanh nghiệp thành lập mới và trên 11 nghìn doanh nghiệp hoạt động trở lại; tổng vốn đăng ký mới, bổ sung đạt trên 1,16 triệu tỷ đồng. 

Tiếp tục đẩy mạnh thực hiện các đề án, chương trình, kế hoạch cơ cấu lại các ngành, lĩnh vực. Phê duyệt Đề án cơ cấu lại đầu tư công giai đoạn 2017 - 2020 và định hướng đến 2025. Ban hành Nghị định về đầu tư theo hình thức đối tác công tư (PPP); chấn chỉnh một bước những bất cập trong các dự án PPP, nhất là các dự án BOT giao thông. Rà soát, hoàn thiện cơ chế, chính sách, pháp luật về đầu tư, quản lý, sử dụng và khai thác kết cấu hạ tầng đường sắt, đường thủy nội địa, hàng không, hàng hải; triển khai xây dựng một số đoạn đường bộ cao tốc Bắc - Nam phía Đông; tập trung tháo gỡ khó khăn, vướng mắc đối với các công trình trọng điểm quốc gia . Triển khai Chương trình mục tiêu đầu tư hạ tầng khu kinh tế ven biển, cửa khẩu; khu, cụm công nghiệp; khu công nghệ cao và khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao. Ban hành hệ thống tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật xây dựng Việt Nam; tăng cường công tác quản lý đô thị, quy hoạch hạ tầng, kiến trúc và phát triển nhà ở xã hội.

Cơ cấu lại các tổ chức tín dụng gắn với xử lý nợ xấu theo tinh thần Nghị quyết của Quốc hội và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật các tổ chức tín dụng đạt được những kết quả quan trọng. Các ngân hàng thương mại yếu kém được kiểm soát chặt chẽ, tập trung xử lý theo nguyên tắc thị trường. Đến cuối tháng 3/2018, tỷ lệ nợ xấu còn 2,18%. Công tác cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước (DNNN) được nhiều bộ ngành, địa phương triển khai tích cực; bán cổ phần lần đầu tại một số doanh nghiệp lớn đạt kết quả tốt. Thành lập Ủy ban quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp; rà soát, hoàn thiện Điều lệ và tổ chức hoạt động của một số tập đoàn, tổng công ty nhà nước . Việc xử lý các dự án, doanh nghiệp thua lỗ, thất thoát lớn đạt kết quả bước đầu, giảm lỗ và một số dự án đã có lãi . 

Thực hiện đồng bộ các giải pháp cơ cấu lại nông nghiệp gắn với xây dựng nông thôn mới. Triển khai nhiều cơ chế, chính sách khuyến khích đào tạo nghề, phát triển thủy sản, bảo hiểm nông nghiệp, thu hút đầu tư của doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao . Trong 4 tháng có gần    600 doanh nghiệp đăng ký mới trong khu vực nông nghiệp, nâng tổng số lên trên 9,5 nghìn doanh nghiệp. Khánh thành nhiều nhà máy chế biến nông sản. Các Bộ, ngành, địa phương tập trung thực hiện tốt các khuyến cáo của EU về đánh bắt hải sản. Triển khai Chương trình mỗi xã một sản phẩm và Đề án phát triển 15 nghìn hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã nông nghiệp hoạt động có hiệu quả. Có gần 700 hợp tác xã thành lập mới trong quý I, tăng 2,2 lần so với cùng kỳ. Đến nay đã có 52 huyện và 3.320 xã đạt chuẩn nông thôn mới (đạt 37,2%).

Cơ cấu lại các ngành công nghiệp tiếp tục chuyển dịch tích cực; tỷ trọng công nghiệp chế biến, chế tạo chiếm khoảng 52% (cuối năm 2017 khoảng 51%). Ban hành Chiến lược phát triển ngành cơ khí; triển khai Chương trình quốc gia về quản lý nhu cầu điện giai đoạn 2018 - 2020, định hướng 2030. Phát triển các ngành dịch vụ có tiềm năng, lợi thế, hàm lượng khoa học công nghệ cao, như công nghệ thông tin, truyền thông, tài chính, ngân hàng... Du lịch tiếp tục phát triển mạnh; khách du lịch trong nước 4 tháng đạt 29,6 triệu lượt; khách quốc tế đạt trên 5,55 triệu lượt, tăng 29,5%.

b) Về văn hóa, xã hội, môi trường

Các cấp, các ngành triển khai thực hiện tốt chính sách ưu đãi người có công; trao gần 1,9 triệu suất quà Tết của Lãnh đạo Đảng, Nhà nước và hàng triệu suất quà của các địa phương, doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân cho người có công, gia đình và đối tượng chính sách. Tổ chức chu đáo các hoạt động phục vụ người dân đón Tết vui tươi, lành mạnh, an toàn. Việc hỗ trợ người nghèo, người yếu thế, vùng bị thiên tai được triển khai thiết thực, hiệu quả. Cấp phát gần 17 nghìn tấn gạo từ dự trữ quốc gia trong dịp Tết, giáp hạt. Tích cực thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững; các địa phương chủ động triển khai các chính sách hỗ trợ hộ nghèo, hộ cận nghèo . Trong 4 tháng, có khoảng 812 nghìn lượt hộ nghèo, hộ cận nghèo và các đối tượng chính sách được vay vốn tín dụng ưu đãi với tổng dư nợ trên 179 nghìn tỷ đồng. Hỗ trợ nhà ở cho trên 121 nghìn hộ người có công, xây dựng 72 nghìn căn hộ cho người có thu nhập thấp ở khu vực đô thị, công nhân khu công nghiệp.

Công tác dạy nghề, giải quyết việc làm đạt kết quả tích cực; trong 4 tháng giải quyết việc làm cho khoảng 500 nghìn lao động, trong đó đưa khoảng 40 nghìn người đi làm việc ở nước ngoài. Tuyển sinh giáo dục nghề nghiệp 543 nghìn người . Cơ cấu lao động tiếp tục dịch chuyển tích cực; tỷ lệ lao động trong khu vực nông nghiệp giảm từ 40,3% vào cuối năm 2017 xuống còn 38,6% . Trình Hội nghị Trung ương 7 (khóa XII) thông qua các đề án về cải cách chính sách tiền lương, bảo hiểm xã hội. Chú trọng cải thiện quan hệ lao động, kịp thời xử lý tranh chấp lao động, nhất là các vụ việc chủ doanh nghiệp bỏ trốn, chậm trả lương; giải quyết kịp thời chính sách bảo hiểm thất nghiệp . Tỷ lệ tham gia bảo hiểm xã hội đạt khoảng 26%. Tăng cường kiểm tra, giám sát an toàn, vệ sinh lao động. 

Tiếp tục thực hiện đồng bộ các giải pháp nâng cao chất lượng khám, chữa bệnh và giảm quá tải bệnh viện. Triển khai Đề án xây dựng và phát triển mạng lưới y tế cơ sở, gói dịch vụ y tế cơ bản; thí điểm lập hồ sơ quản lý sức khỏe cá nhân; phát triển mô hình phòng khám bác sỹ gia đình. Thực hiện lộ trình điều chỉnh giá dịch vụ y tế theo hướng tính đúng, tính đủ, gắn với bảo hiểm y tế toàn dân. Tỷ lệ bao phủ bảo hiểm y tế đạt trên 87%. Đổi mới công tác quản lý an toàn thực phẩm phù hợp với yêu cầu thực tiễn và thông lệ quốc tế; thí điểm thực hiện thanh tra chuyên ngành tại 07 địa phương; đã phát hiện và xử lý nghiêm nhiều vụ việc vi phạm.

Tập trung xây dựng chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông mới . Ngân hàng Thế giới (WB) đánh giá Việt Nam nằm trong 10 hệ thống giáo dục hàng đầu khu vực. Hoàn thành mục tiêu phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ 5 tuổi. Chỉ đạo rà soát, có giải pháp phù hợp xử lý tình trạng thừa, thiếu cục bộ giáo viên phổ thông. Nâng cao chất lượng giáo dục đại học, sau đại học và đào tạo các ngành sư phạm; chú trọng kiểm định chất lượng giáo dục . Chuẩn bị tổ chức tốt kỳ thi tốt nghiệp trung học phổ thông quốc gia, tuyển sinh đại học, cao đẳng năm 2018. Chấn chỉnh công tác xét duyệt, công nhận đạt tiêu chuẩn chức danh giáo sư, phó giáo sư. Khai trương hệ tri thức Việt số hóa và bổ sung các cơ chế, chính sách, giải pháp hỗ trợ tạo lập hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo quốc gia . Tăng cường năng lực tiếp cận Cách mạng công nghiệp 4.0; tháo gỡ khó khăn, vướng mắc, nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước và đầu tư cho khoa học công nghệ. Hoàn thiện pháp luật về chuyển giao công nghệ; tiêu chuẩn đo lường, chất lượng sản phẩm hàng hóa và phát triển doanh nghiệp khoa học công nghệ; xây dựng Chiến lược sở hữu trí tuệ quốc gia.

Quản lý lễ hội có nhiều tiến bộ; giảm các nghi thức lễ hội bạo lực, phản cảm; cơ bản không còn tình trạng cán bộ, công chức sử dụng xe công, giờ hành chính đi lễ hội. Nhiều tấm gương dũng cảm cứu người, hiến tạng, hiến máu… và các hoạt động từ thiện, nhân đạo được đề cao, góp phần lan tỏa những giá trị nhân văn, tốt đẹp trong xã hội. Chú trọng bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa; xây dựng đời sống văn hóa cơ sở, văn hóa vùng đồng bảo dân tộc thiểu số và miền núi. Công nhận thêm 26 di tích, di sản văn hóa quốc gia. Thể dục, thể thao có những tiến bộ. Công tác dân tộc, tôn giáo, chăm sóc người cao tuổi, trẻ em, phụ nữ, bình đẳng giới tiếp tục được quan tâm. Tăng cường thông tin, truyền thông và kỷ luật kỷ cương trong hoạt động báo chí. 

Tập trung chỉ đạo thực hiện nghiêm các quy định về quản lý tài nguyên, bảo vệ môi trường và ứng phó biến đổi khí hậu. Xây dựng các đề án về thí điểm tích tụ, tập trung đất đai và phát triển thị trường quyền sử dụng đất. Điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất; chỉ đạo các địa phương tập trung kiểm tra, rà soát, xử lý các dự án, công trình chậm đưa đất vào sử dụng, lãng phí. Chủ động kiểm soát, phòng ngừa ô nhiễm môi trường. Tập trung triển khai Nghị quyết của Chính phủ về phát triển bền vững vùng đồng bằng sông Cửu Long thích ứng với biến đổi khí hậu; bố trí các nguồn lực khắc phục sạt lở nghiêm trọng, bảo đảm an toàn tài sản và tính mạng người dân. Xây dựng kế hoạch quốc gia về thích ứng biến đổi khí hậu giai đoạn 2021 - 2030, tầm nhìn 2050; tăng cường hợp tác quốc tế, huy động nguồn lực và chia sẻ kinh nghiệm. Kiên quyết xử lý các vụ phá rừng, gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng, vi phạm pháp luật về đất đai, khoáng sản; trong 4 tháng đã xử lý trên 4,7 nghìn vụ vi phạm pháp luật về môi trường.

c) Về xây dựng thể chế, cải cách hành chính, công tác thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo, phòng chống tham nhũng, lãng phí

Tập trung rà soát, hoàn thiện thể chế gắn với tổ chức thi hành pháp luật; ưu tiên dành nhiều thời gian hơn cho công tác xây dựng pháp luật tại các Phiên họp Chính phủ hàng tháng; ban hành các văn bản quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành các Luật, nghị quyết đã có hiệu lực. Sửa đổi, bổ sung các quy định pháp luật để triển khai thực hiện các Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4, 5, 6 (khóa XII). Hoàn thiện việc xây dựng, trình Quốc hội tại kỳ họp này xem xét, cho ý kiến 08 dự án luật, thông qua 08 dự án luật và Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2019 . 

Đẩy mạnh đơn giản hóa thủ tục hành chính, cắt giảm điều kiện đầu tư kinh doanh, kiểm tra chuyên ngành; phát huy vai trò Tổ công tác của Thủ tướng Chính phủ về kiểm tra, đôn đốc thực hiện nhiệm vụ giao cho các Bộ ngành, địa phương . Thành lập Tổ công tác của Thủ tướng Chính phủ về kiểm tra công vụ. Tích cực ứng dụng công nghệ thông tin, kết nối liên thông, mở rộng cung cấp dịch vụ công trực tuyến, nhất là đối với các lĩnh vực trọng điểm như giáo dục, y tế, tài chính, lao động, bảo hiểm xã hội, môi trường; đến nay đã có 26 bộ, cơ quan và 63/63 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương kết nối liên thông văn bản điều hành . Tổ chức đối thoại với nông dân, công nhân; mở thêm các kênh tiếp nhận ý kiến, nguyện vọng của người dân, doanh nghiệp. Triển khai hiệu quả các chương trình phối hợp giữa Chính phủ với Ban đảng, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao và các đoàn thể.

Công tác thanh tra được tập trung triển khai theo kế hoạch; nhiều vụ việc nghiêm trọng, phức tạp, xã hội quan tâm đã được chỉ đạo quyết liệt, ban hành kết luận, được dư luận đồng tình, ủng hộ (như các vụ việc: AVG, đất đai tại Đà Nẵng…); việc xử lý sau thanh tra được tăng cường . Công tác phòng chống tham nhũng được chú trọng; nghiêm túc triển khai các kết luận của đồng chí Tổng Bí thư tại các phiên họp của Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng và các cuộc họp của Lãnh đạo chủ chốt. Tập trung điều tra, truy tố, xét xử công khai, nghiêm minh các vụ án tham nhũng lớn, dư luận quan tâm (như vụ đánh bạc và tổ chức đánh bạc trên internet, các vụ án liên quan đến sai phạm tại một số ngân hàng thương mại, tập đoàn Dầu khí…). Ban hành và tích cực chỉ đạo thực hiện Chương trình tổng thể về thực hành tiết kiệm, chống lãng phí. Tổ chức Hội nghị của Chính phủ với các Bộ, ngành và 27 địa phương có nhiều vụ việc khiếu nại, tố cáo đông người, phức tạp, kéo dài. Trong 4 tháng, tổ chức tiếp trên 82 nghìn lượt công dân; giải quyết trên 5,4 nghìn vụ khiếu nại, tố cáo.

d) Về quốc phòng, an ninh, đối ngoại

Quốc phòng, an ninh được tăng cường; trật tự an toàn xã hội được bảo đảm. Kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ chủ quyền quốc gia, toàn vẹn lãnh thổ; chủ động, sẵn sàng ứng phó với các tình huống phức tạp. Tăng cường bảo đảm an ninh, an toàn cho ngư dân và các hoạt động kinh tế trên biển, đảo. Xây dựng và quản lý biên giới đất liền hòa bình, ổn định và phát triển. Nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về an ninh, trật tự. Đấu tranh ngăn chặn có hiệu quả với âm mưu, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch, phản động. Làm tốt công tác phòng chống tội phạm, giữ gìn an ninh trật tự, nhất là ở các địa bàn trọng điểm, bảo đảm an toàn thông tin, an ninh mạng; tai nạn giao thông giảm cả 3 tiêu chí . Hoạt động đối ngoại, hội nhập quốc tế diễn ra sôi động và đạt kết quả tích cực. Tổ chức thành công nhiều hoạt động đối ngoại của Lãnh đạo Đảng, Nhà nước. Thúc đẩy quan hệ với các nước láng giềng, các nước ASEAN và nước lớn; chủ động tăng cường quan hệ với các nước bạn bè truyền thống. Đẩy mạnh đối ngoại đa phương, đảm nhiệm tốt vai trò của nước chủ nhà, tổ chức chu đáo Hội nghị thượng đỉnh hợp tác tiểu vùng Mê Công mở rộng lần thứ 6 và Hội nghị cấp cao hợp tác khu vực tam giác phát triển Campuchia - Lào - Việt Nam lần thứ 10. Phát huy vai trò kết nối, thúc đẩy đàm phán, ký Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương; đẩy nhanh việc hoàn tất Hiệp định thương mại tự do Việt Nam - EU, đàm phán Hiệp định Đối tác kinh tế toàn diện khu vực. Hỗ trợ địa phương, doanh nghiệp kết nối, tìm kiếm đối tác, nhà đầu tư, mở rộng thị trường. Triển khai hiệu quả công tác thông tin đối ngoại, bảo hộ quyền và lợi ích của công dân, ngư dân, doanh nghiệp Việt Nam ở nước ngoài. 

2. Hạn chế, khó khăn, thách thức

Bên cạnh kết quả đạt được, chúng ta vẫn còn những hạn chế và gặp nhiều khó khăn, thách thức. Kinh tế vĩ mô ổn định chưa thật vững chắc. Mặc dù chỉ số giá tiêu dùng tăng thấp nhưng vẫn tiềm ẩn nguy cơ lạm phát do nhiều nguyên nhân . Giải ngân vốn đầu tư từ NSNN 4 tháng mới đạt 16,4% dự toán. Cân đối ngân sách trung ương khó khăn; kỷ luật tài chính - NSNN có nơi chưa nghiêm. Chi phí logistics, kiểm tra chuyên ngành còn cao . Một số công trình trọng điểm chậm tiến độ và đội vốn . Công tác quy hoạch, quản lý quy hoạch có nơi còn bất cập. Thị trường bất động sản phát triển chưa bền vững. Quản lý tài sản công nhiều nơi còn lỏng lẻo, thất thoát, lãng phí; phát hiện một số vụ việc vi phạm pháp luật nghiêm trọng về quản lý nhà, đất, phải xử lý hình sự. Việc quản lý, kiểm soát các hoạt động thanh toán qua mạng, chuyển tiền còn bất cập.

Công nghiệp chế biến, chế tạo có xu hướng tăng chậm lại; chủ yếu ở phân khúc thấp trong chuỗi giá trị; ngành khai khoáng gặp khó khăn. Cơ cấu lại các ngành công nghiệp chưa đồng bộ, còn bất cập. Công tác dự báo thị trường còn hạn chế; nhiều sản phẩm khó cạnh tranh với hàng nhập khẩu, cả về giá và chất lượng. Tình trạng rau, củ, quả, mía đường… dư thừa xảy ra tại một số địa phương. Việc hình thành và phát triển chuỗi giá trị nông sản còn hạn chế, nhất là về kết nối thị trường, thông tin sản phẩm, truy nguyên nguồn gốc, chứng nhận xuất xứ; chưa có nhiều thương hiệu mạnh, chất lượng cao. Hàng xuất khẩu ngày càng đối mặt với nhiều biện pháp phòng vệ kỹ thuật của nước ngoài . Quy mô kinh doanh dịch vụ còn nhỏ, phân tán. Phát triển doanh nghiệp tăng chậm lại ; doanh nghiệp chủ yếu là nhỏ và vừa, chất lượng hoạt động và năng lực cạnh tranh còn thấp. Trình độ ứng dụng công nghệ, quản trị điều hành còn yếu; khả năng tham gia chuỗi giá trị khu vực và toàn cầu thấp. Sản xuất kinh doanh trong một số lĩnh vực còn khó khăn. Kinh doanh cá thể, hộ gia đình vẫn chiếm tỷ trọng lớn trong khu vực kinh tế tư nhân. Cải cách thủ tục hành chính ở một số bộ, ngành, địa phương chưa có chuyển biến tích cực. Cổ phần hóa, thoái vốn có nơi còn chậm; nhiều doanh nghiệp đã cổ phần hóa nhưng chưa đăng ký niêm yết trên thị trường chứng khoán.

Công tác xây dựng pháp luật còn những hạn chế, bất cập. Việc xây dựng, trình một số dự án luật còn chậm. Công tác triển khai thi hành, tuyên truyền, phổ biến pháp luật trong một số lĩnh vực còn hạn chế. Xây dựng Chính phủ điện tử, cơ sở dữ liệu quốc gia triển khai còn chậm; tỷ lệ cung cấp dịch vụ công trực tuyến mức độ 3, 4 chưa cao. Công tác theo dõi, đôn đốc, kiểm tra việc thực hiện kết luận, kiến nghị, quyết định xử lý sau thanh tra hiệu quả chưa cao. Tình trạng khiếu kiện đông người, phức tạp, kéo dài diễn ra tại một số địa phương.

Đời sống của một bộ phận người dân ở vùng sâu, vùng xa, vùng bị thiên tai, vùng đồng bào dân tộc thiểu số còn khó khăn. Việc cân đối, bố trí nguồn lực cho vùng dân tộc, miền núi chưa đáp ứng yêu cầu. Tỷ lệ thất nghiệp ở trình độ cao đẳng, đại học còn cao. Việc mở rộng bao phủ bảo hiểm xã hội còn khó khăn. Còn những biểu hiện suy thoái về đạo đức, lối sống, văn hóa ứng xử, gây bức xúc xã hội, đặc biệt là hành xử bạo lực với thầy thuốc, nhà giáo, học sinh... Công tác bảo đảm an toàn thông tin, an ninh mạng còn bất cập. Xảy ra một số vụ gây ô nhiễm môi trường, phá rừng nghiêm trọng. Tình hình trật tự an toàn xã hội, cháy nổ diễn biến phức tạp, nhiều vụ nghiêm trọng . 

Đánh giá chung, nhờ sự nỗ lực của cả hệ thống chính trị, cộng đồng doanh nghiệp và nhân dân cả nước, tình hình kinh tế - xã hội năm 2017 và những tháng đầu năm 2018 chuyển biến tích cực và đạt được những kết quả quan trọng, toàn diện trên các lĩnh vực. Kinh tế vĩ mô ổn định; các ngành chủ yếu đều tăng trưởng cao hơn cùng kỳ. Đời sống người dân tiếp tục được cải thiện; các lĩnh vực văn hóa, xã hội, môi trường, cải cách hành chính, phòng chống tham nhũng, lãng phí, quốc phòng, an ninh, đối ngoại đạt nhiều kết quả, tạo không khí phấn khởi trong toàn xã hội, góp phần củng cố niềm tin của nhân dân, cộng đồng doanh nghiệp, các nhà đầu tư trong và ngoài nước. Tuy nhiên, nền kinh tế nước ta vẫn còn những hạn chế, yếu kém. Chúng ta đã làm và nỗ lực xử lý được nhiều việc nhưng vẫn còn nhiều vấn đề đòi hỏi các cấp, các ngành tiếp tục dành thời gian, nguồn lực và tập trung khắc phục.

(Còn nữa)

-----------------------------

Chú thích:

3. Chỉ số CPI tháng 4/2018 tăng 0,08% so với tháng trước, tăng 1,05% so với tháng 12/2017 và bình quân 4 tháng tăng 2,8% so với cùng kỳ. Lạm phát cơ bản tháng 4/2018 tăng 0,05% so với tháng trước, bình quân 4 tháng tăng 1,34% so với cùng kỳ năm 2017.

4. Từ năm 2017 đến nay, tình hình kinh tế vĩ mô ổn định, lạm phát được kiểm soát, mặt bằng lãi suất cơ bản ổn định; giảm lãi suất cho vay đối với khách hàng thuộc các lĩnh vực ưu tiên có tình hình tài chính minh bạch, lành mạnh; tháng 01/2018, một số ngân hàng thương mại đã điều chỉnh giảm lãi suất cho vay từ 0,5-1%.

5. Các tổ chức tín dụng yếu kém đã được kiểm soát chặt chẽ, thực hiện đồng bộ các giải pháp cơ cấu lại, cắt giảm chi phí, nâng cao hiệu quả hoạt động, giảm thiểu việc gia tăng lỗ; tích cực triển khai thu hồi và xử lý nợ xấu đảm bảo an toàn hệ thống. Hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt tiếp tục phát triển, công tác bảo đảm an ninh, an toàn các hệ thống thanh toán được chú trọng. Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Đề án đẩy mạnh thanh toán qua ngân hàng đối với các dịch vụ công: thuế, điện, nước, học phí, viện phí và chi trả các chương trình an sinh xã hội với mục tiêu đẩy mạnh thanh toán dịch vụ công và chi trả an sinh xã hội qua ngân hàng; ban hành Chỉ thị số 10/CT-TTg ngày 11/4/2018 về tăng cường quản lý các hoạt động liên quan đến Bitcoin và các loại tiền ảo tương tự khác, trong đó có phân công nhiệm vụ cụ thể cho các Bộ, ngành, địa phương nhằm kiểm soát hoạt động liên quan đến tiền ảo.

6. Tăng trưởng GDP quý I: Năm 2009 tăng 3,14%; năm 2010 tăng 5,84%; năm 2011 tăng 5,90%; năm 2012 tăng 4,75%; năm 2013 tăng 4,76%; năm 2014 tăng 5,06%; năm 2015 tăng 6,12%; năm 2016 tăng 5,48%; năm 2017 tăng 5,15%.

7. Một số sản phẩm công nghiệp chủ yếu đều tăng so với cùng kỳ, trong đó sắt, thép thô tăng 38,2%; vải dệt từ sợi tổng hợp hoặc sợi nhân tạo tăng 26,2%; sữa bột tăng 20,7%; thức ăn cho thủy sản tăng 19%; ti vi tăng 17,5%; thuỷ hải sản chế biến tăng 11,8%. Sản lượng điện sản xuất và mua đạt 64.431 triệu KWh, bằng 30,29% kế hoạch năm, tăng 10,25%. Sản lượng xi măng tiêu thụ ước khoảng 29,83 triệu tấn, tăng 13%; kính xây dựng ước đạt 105 triệu m2 (QTC), tăng 9%; gạch ốp lát sản xuất ước đạt 257 triệu m2, tăng 9%; sứ xây dựng sản xuất ước đạt 5,3 triệu sản phẩm, tăng 10%; gạch không nung sản xuất ước đạt 2,45 tỷ viên (QTC), tăng 11%.

8. Chính phủ đã ban hành Nghị định cắt giảm 675 điều kiện đầu tư kinh doanh trong 8 lĩnh vực, tương đương 55% trong tổng số 1.216 điều kiện đầu tư kinh doanh mà Bộ Công Thương quản lý. Đến nay, Bộ Y tế đang kiến nghị Chính phủ cắt giảm 1.151 điều kiện đầu tư kinh doanh, trong tổng số 1.680 điều kiện đầu tư kinh doanh (chiếm 68,51%); Bộ Giao thông vận tải kiến nghị cắt giảm 352 điều kiện đầu tư kinh doanh, trong tổng số 570 điều kiện đầu tư kinh doanh (chiếm 61,75%); Bộ Xây dựng kiến nghị cắt giảm 89 điều kiện đầu tư kinh doanh trong tổng số 215 điều kiện đầu tư kinh doanh (chiếm 41,3%); Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn kiến nghị cắt giảm 131 điều kiện đầu tư kinh doanh, trong tổng số 345 điều kiện đầu tư kinh doanh (chiếm 37,97%); Bộ Giáo dục và Đào tạo kiến nghị cắt giảm 110 điều kiện đầu tư kinh doanh, trong tổng số 212 điều kiện kinh doanh (chiếm 51,9%).

9. Các dự án trọng điểm như đường bộ cao tốc Bắc - Nam phía Đông, cảng hàng không quốc tế Tân Sơn Nhất, cảng hàng không quốc tế Long Thành, cầu Bạch Đằng, cầu Vàm Cống, đường cao tốc Trung Lương - Mỹ Thuận, đường cao tốc Mỹ Thuận - Cần Thơ, đường cao tốc Hải Phòng - Hạ Long, đường cao tốc Hạ Long - Vân Đồn, thu phí tự động không dừng... được tập trung chỉ đạo quyết liệt, đảm bảo tiến độ, kế hoạch đề ra. Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt điều chỉnh Quy hoạch phát triển giao thông vận tải hàng không giai đoạn đến năm 2020, định hướng đến năm 2030. 

10. Trong 4 tháng đã thoái vốn tại 7 DNNN lớn (Công ty TNHH MTV Lọc hóa dầu Bình Sơn, Tổng Công ty Dầu Việt Nam, Tổng Công ty Điện lực dầu khí Việt Nam, Tập đoàn cao su Việt Nam, Tổng Công ty lương thực miền Nam, Tổng Công ty thương mại Hà Nội, Tổng Công ty phát điện 3), thu về trên 20 nghìn tỷ đồng.

11.  Trong đó có Điều lệ tổ chức và hoạt động của Tập đoàn Dầu khí Việt Nam, Tập đoàn Điện lực Việt Nam, Tập đoàn Hóa chất Việt Nam, Công ty mẹ - Tập đoàn Công nghiệp - Viễn thông Quân đội,  Tổng Công ty Đường sắt Việt Nam, Tổng Công ty Lương thực miền Bắc.

12. Trong đó, có 02 dự án đã có lãi và cắt giảm được lỗ lũy kế là Dự án nhà máy sản xuất phân bón DAP số 1 - Hải Phòng và Dự án khai thác và tuyển quặng sắt mỏ Quý Xa và Nhà máy gang thép Lào Cai (VTM). Dự án khai thác và tuyển quặng sắt mỏ Quý Xa và Nhà máy gang thép Lào Cai đã hoàn thành nội dung quan trọng là đàm phán với đối tác liên doanh nước ngoài trong việc sửa đổi và ký kết chính thức Hợp đồng liên doanh, Điều lệ liên doanh và quy định đề cử chức danh Tổng giám đốc và ký Hợp đồng liên doanh, Điều lệ liên doanh sửa đổi của VTM và ổn định sản xuất. Các dự án, nhà máy còn lại vẫn đang tiếp tục xử lý các khó khăn, vướng mắc để tiếp tục thực hiện các nhiệm vụ được giao. Theo đánh giá chung của Ban Chỉ đạo của Chính phủ, các nội dung công việc đã và đang được các Bộ, ngành triển khai tích cực, trách nhiệm và cơ bản bảo đảm yêu cầu theo Đề án xử lý và Kế hoạch hành động đã đề ra.

13. Trong đó, ban hành các Nghị định số 52/2018/NĐ-CP về phát triển ngành nghề nông thôn, số 57/2018/NĐ-CP  về khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn và số 58/2018/NĐ-CP về bảo hiểm nông nghiệp.

14. Trong đó tập trung vào các chính sách hỗ trợ về: y tế, giáo dục, nhà ở, tín dụng ưu đãi, khuyến nông, khuyến lâm, hỗ trợ phát triển sản xuất, xây dựng mô hình giảm nghèo, trợ giúp pháp lý… Ngoài số kinh phí bố trí trong cân đối ngân sách địa phương, dự toán ngân sách trung ương năm 2018  bố trí tăng thêm khoảng 15.897 tỷ đồng để thực hiện một số chính sách an sinh xã hội, giảm nghèo, trong đó hỗ trợ chính sách giáo dục, đào tạo, dạy nghề là 2.987 tỷ đồng; chính sách y tế là 3.024 tỷ đồng (mua thẻ bảo hiểm y tế cho người nghèo, đồng bào dân tộc thiểu số, học sinh sinh viên, trẻ em dưới 6 tuổi, người thuộc hộ cận nghèo, hộ làm nông, lâm, ngư, diêm nghiệp có mức sống trung bình và người hiến tạng); chính sách đảm bảo xã hội là 1.850 tỷ đồng hỗ trợ tiền điện hộ nghèo, hộ chính sách xã hội, hỗ trợ hộ nghèo vùng khó khăn theo Quyết định số 102/2009/QĐ-TTg, kinh phí bảo trợ xã hội theo Nghị định số 136/2013/NĐ-CP, kinh phí trợ giúp pháp lý.

15. Trong đó, cao đẳng, trung cấp là 43,2 nghìn người, sơ cấp và các chương trình đào tạo nghề nghiệp khác 500 nghìn người, bao gồm 30 nghìn lao động nông thôn được hỗ trợ học nghề.

16. Tỷ lệ lao động trong khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản giảm từ 40,3% cuối năm 2017 xuống còn 38,6%; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng từ 25,7% lên 26,7% và khu vực dịch vụ tăng từ 34,0% lên 34,7%.

17. Đã tập trung hỗ trợ, tạo điều kiện cho người lao động tìm việc làm mới khi mất việc làm. Trong 4 tháng đã giải quyết cho gần 140 nghìn người hưởng trợ cấp thất nghiệp, tư vấn giới thiệu việc làm cho trên 284 nghìn người và trợ cấp học nghề cho 8,4 nghìn người.

18. Ban hành Nghị định số 15/2018/NĐ-CP quy định chi tiết Luật an toàn thực phẩm thay thế Nghị định số 38/2012/NĐ-CP.

19. Đã hoàn thành xây dựng chương trình giáo dục phổ thông tổng thể, dự thảo các chương trình môn học, hoạt động giáo dục. Tổ chức thực nghiệm chương trình môn học/hoạt động giáo dục trong chương trình giáo dục phổ thông mới tại 48 trường thuộc 6 tỉnh, thành phố đại diện 6 vùng kinh tế - xã hội trên phạm vi cả nước.

20. Ban hành quy định về mở ngành đào tạo đại học, thạc sĩ, tiến sĩ, liên kết đào tạo, đào tạo liên thông; quy chế đào tạo vừa học, vừa làm; quy chế đào tạo từ xa; quy chế đào tạo tiến sĩ; quy định về kiểm định chất lượng cơ sở giáo dục đại học và chương trình đào tạo. 
Tính đến ngày 15/4/2018, đã có 250 cơ sở giáo dục đại học và trường cao đẳng, trung cấp sư phạm hoàn thành báo cáo tự đánh giá; 113 trường đại học và 02 trường cao đẳng sư phạm được đánh giá từ bên ngoài; 80 trường đại học và 01 trường cao đẳng sư phạm được công nhận đạt tiêu chuẩn chất lượng; 106 chương trình đào tạo được đánh giá và công nhận bởi các tổ chức kiểm định chất lượng trong nước và quốc tế; 04 trường đại học đã được Hội đồng cấp cao đánh giá nghiên cứu và giáo dục đại học của Pháp (HCERES) công nhận đạt chuẩn kiểm định trường đại học; 02 trường được đánh giá theo tiêu chuẩn của AUN-QA; 05 trường có tên trong danh sách những trường tốp đầu của Châu Á theo bảng xếp hạng QS, 03 trường được gắn 3 sao bởi QS-Stars.

Tin nổi bật

Tin cùng chuyên mục

Tin nóng

Xem nhiều nhất