Vì sao dịch bệnh bạch hầu bùng phát tại Tây Nguyên?

Đức Trân

Theo Cục Y tế dự phòng – Bộ Y tế, bệnh bạch hầu là bệnh nhiễm khuẩn, nhiễm độc cấp tính do vi khuẩn bạch hầu gây nên.

Bạch hầu có biến chứng nguy hiểm, thậm chí tử vong.
Bạch hầu có biến chứng nguy hiểm, thậm chí tử vong.

Dịch bệnh dễ dàng lây truyền qua đường hô hấp

Bệnh lây truyền dễ dàng qua đường hô hấp hoặc qua tiếp xúc trực tiếp với các dịch tiết từ niêm mạc mũi họng của bệnh nhân hoặc người lành mang trùng khi ho, hắt hơi, đặc biệt trong khu vực dân cư đông đúc hoặc nơi có điều kiện vệ sinh không đảm bảo. Bệnh cũng có thể lây gián tiếp qua đồ chơi, vật dụng có chứa dịch tiết của người bệnh. Những người chưa từng được tiêm chủng đầy đủ vaccine bạch hầu đều có thể bị bệnh.

Biểu hiện bệnh có thể từ nhẹ đến nặng, thường có giả mạc màu trắng ở tuyến hạnh nhân, hầu họng, thanh quản, mũi, có thể xuất hiện ở da, các màng niêm mạc khác như kết mạc mắt hoặc bộ phận sinh dục, trường hợp nặng có thể gây biến chứng và tử vong.

Cũng theo Cục Y tế dự phòng, trước đây bệnh lưu hành khá phổ biến ở hầu hết các địa phương trên cả nước. Từ khi vaccine phòng bạch hầu được đưa vào chương trình tiêm chủng mở rộng, bệnh đã được khống chế và chỉ ghi nhận một vài trường hợp lẻ tẻ do không tiêm vaccine phòng bệnh, thường xảy ra ở các khu vực vùng sâu, vùng xa nơi có tỷ lệ tiêm chủng thấp.

Tỷ lệ tiêm chủng thấp dẫn đến dịch bệnh phát triển

Trước tình hình dịch bạch hầu bùng phát tại một số địa phương như Kon Tum, Gia Lai, Đắk Nông, bác sĩ Lê Thị Nga, Trung tâm kiểm soát bệnh tật TP HCM cho rằng, do dịch Covid-19 nên có thời gian hoạt động tiêm chủng phải tạm ngưng, cùng với tâm lý lo lắng bị nhiễm bệnh nên một số gia đình chưa đưa trẻ đi tiêm chủng đúng lịch, nên tiến độ bao phủ vaccine cho trẻ bị chậm lại. Dẫn đến thực tế, tỷ lệ tiêm chủng cho trẻ tại các địa bàn nói trên rất thấp

Theo số liệu mới nhất từ Chương trình Tiêm chủng Quốc gia, tỷ lệ tiêm chủng đầy đủ cho trẻ em dưới một tuổi trong năm tháng đầu năm 2020 thấp hơn cùng kỳ năm 2019 (37,2%) và chưa đạt tiến độ yêu cầu là khoảng 40%. Tỷ lệ tiêm vaccine sởi-rubella, DPT4 cho trẻ 18 tháng tuổi lần lượt là 31,2% và 28,9%, thấp hơn năm tháng đầu năm 2019. Riêng tỷ lệ tiêm chủng phòng bệnh bạch hầu ở những địa phương đang diễn biến dịch bệnh bạch hầu phức tạp, chưa tới 50%.

Bên cạnh đó, TS. Dương Thị Hồng, Phó Viện trưởng Viện Vệ sinh dịch tễ Trung ương cho biết, vi khuẩn bạch hầu có khả năng đề kháng cao và tồn tại không chỉ ở người mắc bệnh mà cả người lành mang vi khuẩn nên bệnh bạch hầu có thể xảy ra ở nơi chưa từng xuất hiện bệnh trước đó. Khi chưa có kháng thể bảo vệ, mọi lứa tuổi đều có thể bị bệnh bạch hầu khi tiếp xúc với nguồn lây. Do đó, ở những vùng tỷ lệ tiêm chủng thấp, những trẻ nào tiêm chủng không đủ mũi, đúng lịch đều có nguy cơ mắc bệnh.

Một điểm đáng chú ý nữa là miễn dịch đối với bệnh bạch hầu giảm dần theo thời gian nên đối tượng người lớn và trẻ lớn mặc dù có tiền sử tiêm đủ mũi vaccine phòng bệnh bạch hầu trước đó khoảng 5-10 năm mà không được tiêm nhắc lại thì vẫn có khả năng mắc bệnh.

Tiêm vaccine là cách phòng bệnh hiệu quả

Theo BS. Lê Hồng Nga, Trung tâm kiểm soát dịch bệnh TP HCM, tiêm vaccine phòng bệnh bạch hầu là biện pháp phòng bệnh hiệu quả, vì có thể làm giảm đáng kể tỷ lệ mắc và tử vong. Vắc xin phòng bệnh bạch hầu đã được đưa vào tiêm chủng mở rộng tại Việt Nam từ hơn 30 năm nay. Mọi trẻ em phải được tiêm phòng bệnh bạch hầu trong thành phần vaccine phối hợp (bạch hầu - ho gà - uốn ván - viêm gan B - viêm màng não mủ), gồm 3 mũi cơ bản cách nhau ít nhất 1 tháng, bắt đầu từ lúc trẻ được 2 tháng tuổi và tiêm nhắc mũi thứ 4 lúc trẻ 18 tháng tuổi. Phụ huynh có thể chọn lựa vaccine miễn phí tại các cơ sở tiêm chủng mở rộng hoặc vaccine có trả phí tại các cơ sở tiêm chủng dịch vụ cho liệu trình tiêm chủng bắt buộc này.

Để chủ động phòng chống bệnh bạch hầu, Cục Y tế dự phòng khuyến cáo người dân cần đưa trẻ đi tiêm chủng tiêm vaccine phối hợp phòng bệnh bạch hầu (ComBe Five hoặc DPT-VGB-Hib (SII), Td) đủ mũi tiêm và đúng lịch.

Thường xuyên rửa tay bằng xà phòng; che miệng khi ho hoặc hắt hơi; giữ vệ sinh thân thể, mũi, họng hàng ngày; hạn chế tiếp xúc với người mắc bệnh hoặc nghi ngờ mắc bệnh.

Đảm bảo nhà ở, nhà trẻ, lớp học thông thoáng, sạch sẽ và có đủ ánh sáng.

Khi có dấu hiệu mắc bệnh hoặc nghi ngờ mắc bệnh bạch hầu phải được cách ly và đưa đến cơ sở y tế để được khám, điều trị kịp thời.

Người dân trong ổ dịch cần thực hiện nghiêm túc việc uống thuốc phòng và tiêm vaccine phòng bệnh theo chỉ định và yêu cầu của cơ quan y tế.

Tin liên quan

Tin nổi bật

Tin cùng chuyên mục

Xem nhiều nhất