Lo ngại doanh nghiệp thiếu thông tin về công nghệ phù hợp, thiếu năng lực để đặt hàng bài bản
Theo đại biểu Quốc hội, doanh nghiệp thiếu thông tin về công nghệ phù hợp, thiếu năng lực để đặt hàng bài bản. Viện trường có kết quả nghiên cứu tốt nhưng khó đi tới thương mại hóa thành sản phẩm cụ thể. Cơ quan nhà nước ở địa phương rất muốn thúc đẩy nhưng thiếu công cụ mạnh để làm cầu nối để cung - cầu công nghệ gặp nhau một cách nhanh, đúng, trúng.
Tránh đầu tư trùng lặp
Ngày 13/8 dưới sự chủ trì của Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn, sự điều hành của Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Hồng Diên, Quốc hội thảo luận ở hội trường về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tần số vô tuyến điện, Luật Viễn thông, Luật Giao dịch điện tử và Luật Chuyển giao công nghệ.

Góp ý trực tiếp về nội dung sửa đổi Luật Viễn thông, Đại biểu Quốc hội Sùng A Lềnh (Đoàn Lào Cai) cho rằng, về chia sẻ cơ sở hạ tầng viễn thông dự thảo lần này đã bổ sung cơ chế sử dụng chung cơ sở hạ tầng viễn thông. Đây là vấn đề cần thiết, vừa phục vụ nhiệm vụ quốc phòng, an ninh, vừa góp phần khai thác hiệu quả hạ tầng đã được đầu tư.

Tuy nhiên, từ thực tiễn địa phương, theo ông Lềnh cần nhìn vấn đề chia sẻ hạ tầng rộng hơn dưới góc độ sử dụng hiệu quả nguồn lực xã hội. Đối với địa bàn miền núi, biên giới, địa hình chia cắt, dân cư phân tán, chi phí đầu tư cột ăng-ten, nhà trạm, tuyến truyền dẫn và duy trì vận hành lớn, trong khi hiệu quả kinh doanh thấp. Mỗi doanh nghiệp đều phải đầu tư một hệ thống riêng tại cùng một khu vực vừa tăng chi phí đầu tư xã hội, vừa khó mở rộng nhanh vùng phủ sóng.

Cho rằng dự thảo Luật hiện đang tập trung xử lý cơ chế chia sẻ hạ tầng phục vụ quốc phòng, an ninh nhưng chưa hình thành rõ một nguyên tắc chung để thúc đẩy chia sẻ hạ tầng giữa các doanh nghiệp trong những địa bàn mà đầu tư riêng lẻ không hiệu quả. Từ đó ông Lềnh đề nghị cơ quan soạn thảo nghiên cứu, hoàn thiện khoản 3 Điều 2 dự thảo luật theo 2 hướng.

Một là, bên cạnh cơ chế đặc thù phục vụ quốc phòng, an ninh, cần xác lập ngay trong Điều 47 nguyên tắc khuyến khích và tạo điều kiện sử dụng chung cơ sở hạ tầng viễn thông, đặc biệt tại các khu vực miền núi, biên giới, vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn và địa bàn có hiệu quả đầu tư thương mại thấp. Hai là, cần giao Chính phủ quy định cụ thể cơ chế thực hiện, trong đó có nguyên tắc xác định giá thuê, trách nhiệm đầu tư, vận hành, bảo trì, quyền và nghĩa vụ của các bên và cơ chế xử lý khi doanh nghiệp không thỏa thuận được phương án chia sẻ. Cách quy định này vừa đảm bảo quyền tài sản và quyền kinh doanh của doanh nghiệp, vừa tạo công cụ để tránh đầu tư trùng lặp, sử dụng hiệu quả hơn nguồn lực xã hội.
Bên cạnh đó, ông Lềnh đề nghị bổ sung nguyên tắc bảo đảm khả năng chống chịu và phục hồi của mạng viễn thông trong thiên tai, thảm họa. “Dự thảo hiện có sửa Điều 47 về chia sẻ hạ tầng nhưng nội dung chủ yếu hướng tới yêu cầu quốc phòng, an ninh, chưa có quy định mới mang tính nguyên tắc về dự phòng mạng lưới, chia sẻ hạ tầng trong tình huống thiên tai, ưu tiên phục hồi mạng và huy động nguồn lực của doanh nghiệp khi xảy ra sự cố lớn. Thực tế cho thấy, mưa lũ, sạt lở có thể làm đứt tuyến truyền dẫn, mất điện trên diện rộng, cô lập khu vực và ảnh hưởng trực tiếp đến thông tin phục vụ chỉ đạo, điều hành, cứu hộ cứu nạn”, ông Lềnh nói.
Từ đó ông Lềnh đề nghị cơ quan chủ trì soạn thảo nghiên cứu, bổ sung trong luật một nguyên tắc theo hướng doanh nghiệp viễn thông có trách nhiệm xây dựng phương án bảo đảm hoạt động liên tục và phục hồi mạng trong tình huống thiên tai, thảm họa. Nhà nước có cơ chế huy động, điều phối và chia sẻ hạ tầng viễn thông trong tình huống khẩn cấp. Đồng thời, giao Chính phủ quy định chi tiết các yêu cầu tối thiểu về nguồn điện dự phòng, dự phòng tuyến truyền dẫn, vật tư thiết bị và lực lượng ứng cứu; cơ chế chia sẻ hạ tầng giữa các doanh nghiệp khi mạng bị gián đoạn; thứ tự ưu tiên khôi phục các trạm, tuyến truyền dẫn phục vụ cơ quan chỉ huy, chính quyền cơ sở và lực lượng cứu hộ cứu nạn. Đây cũng là những vấn đề, những nội dung mà thực tiễn quản lý tại Lào Cai đang đặt ra.
Đẩy mạnh liên kết "3 nhà"
Theo đại biểu Quốc hội Bùi Thanh Toàn (Đoàn Đắk Lắk), giá trị lớn nhất của lần sửa đổi này là tạo ra sự kết nối đồng bộ giữa hạ tầng số, dữ liệu số, giao dịch số và chuyển giao công nghệ. Đây không chỉ là việc hoàn thiện các quy định pháp luật chuyên ngành mà còn là bước tiếp tục xây dựng nền tảng thể chế cho mô hình tăng trưởng dựa trên khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, cụ thể hóa nhanh nhất tinh thần của Nghị quyết Trung ương 3 khóa XIV về đổi mới mô hình phát triển của Việt Nam.

Liên quan đến việc sửa đổi khoản 2 Điều 41 và khoản 2 Điều 54 của Luật Chuyển giao công nghệ, ông Toàn đề nghị quan tâm đến nhu cầu công nghệ và sự liên kết 3 nhà (Nhà nước, Viện - Trường và Doanh nghiệp). Đưa ra dẫn chứng Đắk Lắk là tỉnh có thế mạnh rất lớn về phát triển nông nghiệp. Tuy nhiên, thực tế hiện nay cho thấy sự kết nối giữa 3 nhà (Nhà nước, viện trường, doanh nghiệp) trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk cũng như các tỉnh thành khác còn nhiều hạn chế.
Doanh nghiệp thiếu thông tin về công nghệ phù hợp, thiếu năng lực để đặt hàng bài bản. Viện trường có kết quả nghiên cứu tốt nhưng khó đi tới thương mại hóa thành sản phẩm cụ thể. Cơ quan nhà nước ở địa phương rất muốn thúc đẩy nhưng thiếu công cụ mạnh để làm cầu nối để cung - cầu công nghệ gặp nhau một cách nhanh, đúng, trúng. Nếu không có giải pháp thúc đẩy sẽ lãng phí nguồn lực nghiên cứu và làm chậm quá trình bứt phá kinh tế của địa phương.
“Một kết quả nghiên cứu chỉ thực sự có ý nghĩa khi trở thành sản phẩm cụ thể. Một sáng chế chỉ thực sự phát huy giá trị khi tạo ra được việc làm, tăng năng suất và giá trị mang lại trong thực tiễn. Một chính sách chỉ thực sự thành công khi người dân và doanh nghiệp có thể tiếp cận, sử dụng và hưởng lợi. Nếu coi hạ tầng là con đường, thì công nghệ chính là phương tiện và niềm tin số là hệ điều hành. Thông qua dự án luật này, chúng ta không chỉ sửa 4 luật, không chỉ sửa những quy định pháp lý, mà chúng ta sửa cách nền kinh tế tiếp cận với công nghệ, sửa cách tri thức đi vào sản xuất và sửa cách đổi mới sáng tạo tạo ra tăng trưởng cho đất nước”, ông Toàn nêu rõ.

Nâng thời hạn cấp phép ban đầu lên 5 năm là phù hợp
Đại biểu Nguyễn Thị Minh Tú (Đoàn Nghệ An): “Dự án Luật đang kịp thời thể chế hóa chủ trương của Đảng về hoàn thiện thể chế, cắt giảm thủ tục hành chính, điều kiện đầu tư kinh doanh, đẩy mạnh phân cấp phân quyền, gắn với kiểm tra giám sát, phù hợp với mô hình chính quyền địa phương hai cấp. Tại khoản 3 Điều 1 sửa đổi bổ sung khoản 1 Điều 18 Luật Tần số vô tuyến điện, quy định cấp băng tần cho doanh nghiệp nhà nước trực tiếp phục vụ quốc phòng an ninh để phát triển kinh tế kết hợp với nhiệm vụ quốc phòng an ninh, tôi tán thành cơ chế đặc thù này, nhất là khi phục vụ trực tiếp nhiệm vụ quốc phòng an ninh. Đồng thời việc nâng thời hạn cấp phép ban đầu lên 5 năm là phù hợp với đặc thù đầu tư hạ tầng viễn thông cần nguồn lực lớn, thời gian triển khai và thu hồi vốn dài. Tuy nhiên, đây là ngoại lệ cấp băng tần mà theo nguyên tắc thông thường được cấp thông qua đấu giá, nên điều kiện áp dụng cần quy định rõ, bảo đảm minh bạch và cạnh tranh bình đẳng”.