: toasoandko@gmail.com | : (04) 38.228.302
Liên hệ Quảng cáo: (04)39.431.943 - (04)39.447.011
08:00:00 29/03/2019

Chú trọng sàng lọc virus viêm gan B cho phụ nữ mang thai

Thống kê từ Liên hiệp quốc (LHQ) mới đây cho thấy, Việt Nam là một trong các nước thuộc khu vực có tỉ lệ lưu hành virus viêm gan B cao nhất thế giới (10 – 20%). Đặc biệt, phần lớn tỉ lệ nhiễm virus viêm gan B là do lây truyền dọc từ mẹ sang con.

Chú trọng sàng lọc virus viêm gan B cho phụ nữ mang thai

Ảnh minh họa.

90% trẻ có thể mắc viêm gan B mạn tính

Hiện nay, tỉ lệ người nhiễm viêm gan B đang ngày một gia tăng trong cộng đồng. Đặc biệt là tỉ lệ phụ nữ mang thai tại Việt Nam bị viêm gan B từ 10 – 20%. Trên thực tế, tỉ lệ mẹ lây nhiễm viêm gan B cho con là từ 5 – 10%, trong đó có tới 90% trẻ chuyển sang viêm gan B mạn tính. 

Theo các chuyên gia của Vụ Sức khoẻ Bà mẹ - Trẻ em (Bộ Y tế), viêm gan virus B là một trong hai loại viêm gan do virus có gánh nặng lớn nhất đối với sức khoẻ cộng đồng và là nguyên nhân hàng đầu dẫn đến bệnh ung thư gan và xơ gan, gây ra tới 80% tổng số các ca ung thư gan trên thế giới. Việt Nam nằm trong vùng lưu hành dịch tễ cao của virus viêm gan B. 

Hiện có 3 đường lây truyền quan trọng của virus viêm gan B. Đó là lây truyền từ mẹ sang con, lây truyền qua đường máu và lây truyền qua đường tình dục. Trong đó, lây truyền từ mẹ mang virus viêm gan B sang con là đường lây truyền quan trọng của virus viêm gan B tại các nước châu Á. Phụ nữ nhiễm virus viêm gan B có thể truyền cho con khi mang thai, khi chuyển dạ và một thời gian ngắn sau đẻ. 

Ông Nguyễn Đức Vinh - Vụ trưởng Vụ Sức khoẻ bà mẹ - trẻ em cho biết, trong giai đoạn 3 tháng đầu của thai kỳ, tỉ lệ lây nhiễm từ mẹ sang con là 1%, nếu mẹ bị bệnh ở 3 tháng giữa thai kỳ thì tỉ lệ lây nhiễm sang con là 10% và sẽ tăng cao tỉ lệ lây nhiễm sang con từ 60 – 70% nếu mẹ bị mắc bệnh ở 3 tháng cuối của thai kỳ. Ước tính có khoảng 5 – 10% nguy cơ nhiễm viêm gan B xảy ra cho thai nhi trong tử cung do virus xâm nhập qua gai rau bị tổn thương. 

Trên thực tế, nhiều trẻ sinh ra từ mẹ có virus viêm gan B dương tính vẫn bị nhiễm bệnh viêm gan B sau khi sinh, mặc dù đã được tiêm vắc xin viêm gan B. Lây truyền viêm gan B trong quá trình chuyển dạ và khi đẻ là nguyên nhân phổ biến trong cơ chế lây truyền viêm gan B từ mẹ sang con.

Tăng cường sàng lọc để phát hiện bệnh

Theo Vụ Sức khoẻ bà mẹ - trẻ em, hoạt động dự phòng lây truyền viêm gan B từ mẹ sang con hiện còn gặp nhiều khó khăn, thách thức. Tỉ lệ bao phủ liều vắc xin viêm gan B sau sinh chưa cao, thậm chí giảm xuống.

Được biết, xét nghiệm virus viêm gan B cho phụ nữ trước khi sinh đã được triển khai tại nhiều bệnh viện tuyến trung ương và tuyến tỉnh. Tuy nhiên, việc xét nghiệm sàng lọc virus viêm gan B cho phụ nữ mang thai vẫn chưa được coi là xét nghiệm thường qui trong gói chăm sóc trước sinh cũng như chưa có hướng dẫn của Bộ Y tế về việc kiểm soát nhiễm virus viêm gan B cho phụ nữ trong độ tuổi sinh sản, đặc biệt là phụ nữ mang thai.

Bên cạnh đó, việc khám sàng lọc viêm gan cho phụ nữ mang thai hầu hết chưa được thực hiện ở bệnh viện tuyến tỉnh và huyện; các hoạt động phòng, chống bệnh viêm gan virus tại Việt Nam còn mang tính riêng lẻ, chưa có sự phối hợp chặt chẽ giữa các đơn vị cũng như chưa có sự điều phối tổng thể lồng ghép các hoạt động.

GS.TS Nguyễn Viết Tiến - Thứ trưởng Bộ Y tế cho biết, sự lây truyền viêm gan B từ mẹ sang con là một trong 3 bệnh (lây truyền HIV, viêm gan B, giang mai) từ mẹ sang con gây ra nhiều hệ luỵ, ảnh hướng lớn đến sức khoẻ của bà mẹ và trẻ em. Đặc biệt, tại các vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo, trẻ em và phụ nữ mang thai không có cơ hội tiếp cận với các dịch vụ y tế thuận lợi gây khó khăn cho việc loại trừ 3 bệnh này. Thời gian tới, mục tiêu loại trừ lây truyền HIV, viêm gan B và giang mai từ mẹ sang con đã rất rõ ràng và đang được ngành y tế quyết tâm thực hiện.

Bộ Y tế đã triển khai Kế hoạch hành động quốc gia tiến tới loại trừ lây truyền HIV, viêm gan B và giang mai từ mẹ sang con giai đoạn 2018 - 2030. Theo đó, ngành y tế sẽ áp dụng cách tiếp cận chăm sóc liên tục và tiếp cận bao phủ chăm sóc sức khoẻ toàn dân, trong đó xác định gói can thiệp thiết yếu hiệu quả, đảm bảo cho mọi đối tượng có thể tiếp cận được khi có nhu cầu; đảm bảo tính bền vững của chương trình can thiệp loại trừ viêm gan B lây truyền từ mẹ sang con trên cơ sở đẩy mạnh phối hợp, lồng ghép và cung cấp gói dịch vụ chăm sóc sức khoẻ bà mẹ, trẻ em.

Để giảm nguy cơ lây truyền viêm gan B từ mẹ sang con, tất cả phụ nữ trong lần khám đầu tiên trước khi chuẩn bị mang thai đều nên làm xét nghiệm xác định virus viêm gan B và xét nghiệm lại trong thai kỳ nếu cần thiết. Trẻ sinh ra từ các bà mẹ nhiễm viêm gan B có thể được bảo vệ hiệu quả bằng cách gây miễn dịch thụ động và chủ động (tỉ lệ bảo vệ trên 90%). 

Xuân Thuỷ